Anh hùng Lực lượng vũ trang

NGUYỄN CÔNG TÒNG – NGƯỜI ĐẠI ĐỘI TRƯỞNG TỪNG LÀ CHIẾN SĨ NUÔI QUÂN

Anh hùng LLVTND Nguyễn Công Tòng (sinh năm 1935), quê xã Tam Nghĩa, huyện Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, nhập ngũ tháng 1/1953. Sau thời gian tập kết ra miền Bắc, tháng 1/1961 ông trở lại miền Nam chiến đấu. Từ năm 1961–1966, Nguyễn Công Tòng tham gia 31 trận, đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ từ chiến sĩ súng cối, nuôi quân đến chỉ huy đơn vị. Ông nổi bật trong các trận Thuần Mẫn (6/1965), Gò Riêng (11/1965) và Đông Cháy (5/1966) với khả năng chỉ huy bình tĩnh, chủ động chi viện đơn vị bạn và lựa chọn hướng tiến công bất ngờ. Ngày 17/9/1967, ông được tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng Ba và danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.

An Giang22/08/2026Xã Thạnh Mỹ Tây (Đoàn xã Thạnh Mỹ Tây)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Có những người lính trưởng thành từ những vị trí chiến đấu trực tiếp.

Nhưng hành trình của Nguyễn Công Tòng đặc biệt hơn.

Ông từng là chiến sĩ súng cối.

Từng làm nhiệm vụ nuôi quân.

Rồi trở thành người trực tiếp chỉ huy đơn vị trên chiến trường.

Dù ở vị trí nào, tài liệu tuyên dương vẫn ghi nhận một phẩm chất xuyên suốt:

“Trong hoàn cảnh nào, ở cương vị nào, đồng chí cũng đều hoàn thành tốt nhiệm vụ.”

Từ Tam Kỳ bước vào cuộc kháng chiến

Nguyễn Công Tòng sinh năm 1935, quê xã Tam Nghĩa, huyện Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng.

Tháng 1/1953, khi khoảng 18 tuổi, ông nhập ngũ.

Trong kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Công Tòng tham gia 5 trận.

Sau đó ông tập kết ra miền Bắc, tích cực rèn luyện, học tập và tham gia lao động sản xuất.

Nhưng chiến tranh ở quê hương chưa kết thúc.

Tháng 1/1961, Nguyễn Công Tòng trở lại miền Nam chiến đấu.

Từ đây bắt đầu một chặng đường kéo dài nhiều năm trên chiến trường.

Từ năm 1961 đến 1966, ông tham gia 31 trận.

Riêng Nguyễn Công Tòng trực tiếp diệt 12 quân đối phương, bắt sống 1 người, chưa kể số đối phương bị tiêu diệt trong các hầm ngầm; đồng thời thu và phá hủy nhiều vũ khí.

Nhưng dấu ấn nổi bật nhất của ông không chỉ nằm ở thành tích cá nhân.

Đó là năng lực chỉ huy đơn vị trong những thời điểm khó khăn.

Thuần Mẫn – trung đội trưởng bị thương

Tháng 6/1965.

Trận Thuần Mẫn diễn ra quyết liệt.

Giữa trận đánh, trung đội trưởng bị thương.

Nguyễn Công Tòng lúc ấy là trung đội phó.

Ông lập tức lên thay.

Không có thời gian để do dự.

Trước mặt là sở chỉ huy chiến đoàn dù của đối phương.

Trên không, máy bay liên tục bắn phá.

Trong đội hình, thương binh cần được đưa về phía sau.

Nguyễn Công Tòng vừa tiếp tục chỉ huy chiến đấu, vừa động viên anh em giữ vững đội hình và tổ chức đưa thương binh ra nơi an toàn.

Rồi ông phát hiện một tình huống khác:

phân đội bạn đang gặp khó khăn.

Thay vì chỉ tập trung vào hướng của mình, Nguyễn Công Tòng chủ động dẫn lực lượng sang chi viện.

Ba đợt phản kích bị bẻ gãy.

Lực lượng của ông tiếp tục đánh trong các hào giao thông rồi tiến vào trận địa pháo.

Cuộc chiến kéo dài từ 7 giờ sáng đến 5 giờ chiều.

Theo tài liệu tuyên dương, trung đội do Nguyễn Công Tòng chỉ huy đã diệt ban chỉ huy chiến đoàn dù, một trung đội thông tin; phá hủy 7 xe “gíp” và GMC; bắn rơi một máy bay L.19.

Phối hợp với phân đội bạn, lực lượng còn đánh vào một đại đội pháo gồm 5 khẩu đội pháo 105 mm.

Đó là trận đánh thể hiện rõ phẩm chất của Nguyễn Công Tòng:

khi người chỉ huy bị thương, ông đứng lên thay thế; khi đơn vị bạn khó khăn, ông chủ động sang chi viện.

Gò Riêng – “sờ được đầu địch mới nổ súng”

Tháng 11/1965, Nguyễn Công Tòng tham gia trận tập kích Gò Riêng.

Địa hình đặc biệt khó khăn.

Đối phương đóng quân trên đỉnh đồi cao.

Có những đoạn dốc đến mức chiến sĩ phải chồng người lên nhau mới vượt được.

Muốn tạo yếu tố bất ngờ, đơn vị phải tiếp cận thật gần mà không để lộ đội hình.

Nguyễn Công Tòng đi trước quan sát địa hình.

Sau khi nghiên cứu, ông quay xuống trực tiếp dẫn đơn vị tiến lên.

Yêu cầu được đặt ra rất rõ:

“Sờ được đầu địch mới nổ súng.”

Đơn vị âm thầm vượt dốc.

Tiếp cận mục tiêu.

Rồi bất ngờ nổ súng vào nơi đối phương tập trung.

Trận đánh diễn ra rất nhanh.

Chỉ sau 15 phút, lực lượng tiến công làm chủ trận địa.

Theo tài liệu, một đại đội biệt kích bị tiêu diệt; riêng đơn vị của Nguyễn Công Tòng diệt 43 người, bắt sống 7 người và thu nhiều vũ khí, quân dụng.

Một trận đánh ngắn.

Nhưng phía sau 15 phút ấy là quá trình quan sát địa hình, bí mật tiếp cận và lựa chọn đúng thời cơ.

Đông Cháy – bốn ngày bám địch trước trận đánh

Tháng 5/1966.

Mục tiêu tiếp theo là Đông Cháy.

Lần này Nguyễn Công Tòng không đợi đến ngày nổ súng mới xuất hiện trên chiến trường.

Ông đi trinh sát, bám địch và chuẩn bị địa hình từ bốn ngày trước.

Qua nghiên cứu, Nguyễn Công Tòng lựa chọn một hướng tiến công đặc biệt:

con dốc đứng dẫn lên đỉnh đồi.

Đây là hướng khó di chuyển.

Nhưng chính vì khó nên đối phương ít đề phòng.

Nguyễn Công Tòng bí mật nhổ chông, dọn trước đường tiến quân.

Khi trận đánh bắt đầu, lực lượng đối phương chạy về hướng mà họ cho rằng an toàn nhất.

Nhưng đó chính là nơi Nguyễn Công Tòng đã lựa chọn.

Ông dẫn đầu đơn vị từ con dốc đứng đánh mạnh lên.

Yếu tố bất ngờ phát huy tác dụng.

Lực lượng tiếp tục tiến sâu vào trong, đánh các vị trí còn lại trong công sự và làm chủ trận địa.

“Như con thoi” giữa trận địa

Trận Đông Cháy chưa kết thúc khi mục tiêu trên mặt đất được kiểm soát.

Máy bay và pháo binh đối phương bắt đầu đánh phá dữ dội.

Giữa trận địa ấy, tài liệu mô tả Nguyễn Công Tòng:

“như con thoi lao đi giữa trận địa”.

Ông vừa chỉ huy đơn vị đối phó với máy bay, vừa tổ chức đưa thương binh ra ngoài và thu chiến lợi phẩm.

Theo hồ sơ thành tích, đại đội của Nguyễn Công Tòng đã góp phần quan trọng cùng đơn vị bạn tiêu diệt một đại đội Mỹ và một trung đội súng cối.

Một lần nữa, cách chỉ huy của ông thể hiện rất rõ:

Không chỉ tổ chức tiến công.

Mà còn phải bảo toàn lực lượng, chăm lo thương binh và xử lý tình huống sau trận đánh.

Một người chỉ huy trưởng thành từ nhiều nhiệm vụ

Điều đáng chú ý trong cuộc đời quân ngũ của Nguyễn Công Tòng là ông không bắt đầu với vị trí chỉ huy.

Ông từng làm nhiều công việc khác nhau.

Chiến sĩ súng cối.

Chiến sĩ nuôi quân.

Trung đội phó.

Rồi trở thành người chỉ huy đơn vị.

Kinh nghiệm từ những vị trí ấy có lẽ cũng góp phần hình thành phong cách của một cán bộ luôn quan tâm tới đời sống chiến sĩ.

Tài liệu tuyên dương ghi nhận Nguyễn Công Tòng đặc biệt chú trọng giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, cải thiện đời sống đơn vị, đồng thời gương mẫu thực hiện chính sách đối với thương binh, liệt sĩ và chiến lợi phẩm.

Ông cũng được ghi nhận là người hết lòng giúp đỡ và bảo vệ nhân dân.

Vì vậy, Nguyễn Công Tòng không chỉ được đồng đội tin tưởng trong chiến đấu.

Ông còn được họ tin yêu, mến phục.

Ngày được tuyên dương Anh hùng

Với những thành tích trong chiến đấu và xây dựng đơn vị, Nguyễn Công Tòng được tặng Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhất cùng 10 bằng khen, giấy khen.

Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Nguyễn Công Tòng được Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng Ba và danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.

Khi ấy, ông là đại đội trưởng thuộc Tiểu đoàn 93, Trung đoàn 2, Sư đoàn 3.

Từ người chiến sĩ nhập ngũ năm 18 tuổi, từng làm súng cối, từng đảm nhiệm công việc nuôi quân, Nguyễn Công Tòng đã trưởng thành thành một cán bộ chỉ huy.

Và ba trận đánh tiêu biểu – Thuần Mẫn, Gò Riêng, Đông Cháy – cho thấy rõ phẩm chất ấy:

Thuần Mẫn: người chỉ huy bị thương, ông đứng lên thay thế.

Gò Riêng: địa hình hiểm trở, ông đi trước tìm đường.

Đông Cháy: hướng tiến công khó khăn, ông biến nó thành hướng bất ngờ.

Đó là chân dung của Nguyễn Công Tòng – người cán bộ mà dù được giao nhiệm vụ nào, từ nuôi quân đến chỉ huy chiến đấu, cũng đặt việc hoàn thành nhiệm vụ và bảo vệ đồng đội lên hàng đầu.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn