NGUYỄN CÔNG TRỨ: BẬC KỲ TÀI KINH BAN TẾ THẾ VÀ CHỮ "NGÔNG" ĐI VÀO LỊCH SỬ
NGUYỄN CÔNG TRỨ: BẬC KỲ TÀI KINH BAN TẾ THẾ VÀ CHỮ "NGÔNG" ĐI VÀO LỊCH SỬ
"Chí làm trai nam bắc đông tây,Nhà Kinh Tế Kiệt Xuất: Người Khai Phá Những Vùng Đất MớiĐóng góp vĩ đại và bền vững nhất của Nguyễn Công Trứ đối với dân tộc chính là công cuộc khẩn hoang, trị thủy. Ông chính là người có tư duy kinh tế vượt thời gian khi nhìn thấy tiềm năng của những vùng đất bồi ven biển.
Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể."
Phải đến năm 1819, khi đã 41 tuổi (độ tuổi khá muộn thời bấy giờ), ông mới đỗ Giải nguyên và chính thức bước vào chốn quan trường.
Thành lập hai huyện mới: Năm 1828, trên cương vị Dinh điền sứ, ông đã tổ chức cuộc khẩn hoang quy mô lớn tại miền Bắc, chiêu mộ dân nghèo, quai đê lấn biển. Công cuộc này đã khai sinh ra hai huyện trù phú: Tiền Hải (tỉnh Thái Bình) và Kim Sơn (tỉnh Ninh Bình).
An sinh xã hội: Ông không chỉ chia ruộng đất cho dân mà còn lập làng, xây dựng hương ước, giúp hàng vạn người dân nghèo có kế sinh nhai, ổn định cuộc sống. Đến nay, người dân hai vùng đất này vẫn thờ phụng ông như một vị Thành hoàng.
Ông từng giữ chức Tổng đốc, Thượng thư (tương đương Bộ trưởng).
Nhưng cũng có lúc bị vu oan, bị bãi chức, đỉnh điểm là bị giáng xuống làm lính trơn canh gác biên thùy năm 1843.
Đáng nể phục ở chỗ, khi làm tướng ông không kiêu, khi làm lính trơn ông không nhục, vẫn vui vẻ vác súng ra trận thực hiện nhiệm vụ. Chính thái độ hiên ngang này đã khiến cả triều đình lẫn người dân đều phải kính nể.
"Đô môn giải tổ chi niên,Di Sản Sống Mãi Với Thời GianNguyễn Công Trứ mất năm 1858, để lại một di sản đồ sộ cho hậu thế. Ông là tấm gương sáng về một trí thức hành động: nói được, làm được, dám sống và dám chịu trách nhiệm.Tên của ông được đặt cho nhiều đường phố, trường học sầm uất khắp cả nước. Cuộc đời "ngất ngưởng" và những vùng đất trù phú do ông khai phá chính là tượng đài vững chắc nhất lưu danh vị danh tướng, danh nhân văn hóa kiệt xuất này.
Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng."
Khi về hưu, ông cưỡi một con bò vàng, buộc một chiếc mo cau phía sau đuôi để "che miệng thế gian". Hành động ấy vừa hài hước, vừa là sự ngạo nghễ thách thức những định kiến hủ lậu của xã hội phong kiến. Năm 1858, khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược Đà Nẵng, dù đã 80 tuổi, ông vẫn dâng sớ xin vua Tự Đức cho đi lính để ra trận chống giặc, chứng minh lòng yêu nước cho đến hơi thở cuối cùng.



