Bài viết

Nguyễn Công Trứ, một đỉnh cao văn hóa Việt

Hưng Yên30/11/2025báo công an nhân dân (xã Tiên Hoa)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Mùa hè năm 2000, nhà thơ Tố Hữu và phu nhân có một chuyến hành hương dài từ Hà Nội về Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và Huế. Tại Vinh, ông Trương Đình Tuyển, nguyên Bộ trưởng Thương mại mới được điều về làm Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An đã tiếp riêng và mời cơm hai ông bà một cách trọng thị, thân tình. Tôi khi ấy là phóng viên thường trú báo Nhân dân tại Nghệ - Tĩnh, được mời đến cùng dự. Hôm ấy, nhà thơ Tố Hữu đã hướng về Hà Tĩnh vái dài và nói: “Tôi xin bái phục, nghìn lần bái phục cụ Nguyễn Công Trứ. Tôi giờ mới thật hiểu cụ. Thật là một người có một không hai. Tài đến rứa là cùng, khí phách đến rứa là cùng, đức độ làm quan đến rứa là cùng mà chơi nhởi cũng hay đến rứa là cùng…”.

Thế đấy, cái khoảng cách về thời gian và ý thức hệ đã làm cho chúng ta không dễ hiểu hết và đánh giá đúng giá trị của tiền nhân!

Tam lập gồm đủ

Người xưa quan niệm bậc thánh nhân quân tử phải là người có đủ hoặc noi theo tam lập. Sách Tả truyện viết: "Thái thượng hữu lập đức, kỳ thứ hữu lập công, kỳ thứ hữu lập ngôn" (Trước hết, cao nhất là thành tựu đạo đức, sau là làm nên công trạng, sau nữa là để lại lời hay được truyền tụng). Lập đức như cái cây, lập công như cái quả, lập ngôn như cái hạt để truyền lại đời sau.

Người ta làm một việc đã khó, Nguyễn Công Trứ gồm đủ tam lập.

Lập đức, còn có nghĩa là nêu gương về sự làm quan liêm khiết. Ông giữ chức tổng đốc nhiều tỉnh, thượng thư hai bộ…nhưng nhà vẫn thường nghèo như thuở nho sinh: “Ngày ba bữa, vỗ bụng rau bịch bịch, người quân tử ăn chẳng cầu no/ Đêm năm canh, an giấc ngáy kho kho, đời thái bình cửa thường bỏ ngỏ”. Về hưu, ngoài lương hưu, không có gì hơn, nên được Tự Đức thưởng cho 170 quan tiền, bèn mở tiệc mời đồng liêu và bạn hữu chén sạch. Ông ghét nhất bọn quan dốt, quan tham: “Chuồn đội mũ mượn mầu đạo đức / Thịt hay ăn một cục tham si”.

Về lập công, thì ông đã đánh đuổi quân Xiêm, đánh dẹp các cuộc bạo loạn, nổi dậy để ổn định chính trị; lập nên huyện Kim Sơn, Tiền Hải và một tổng của huyện Giao Thủy.

Về lập ngôn, ông để lại những áng văn chương bất hủ. Người Việt Nam, hầu như đều thuộc ít nhất câu thơ tuyên ngôn của ông: “Đã mang tiếng đứng trong trời đất/ Phải có danh gì với núi sông”. Chữ “danh” của Nguyễn Công Trứ không phải là học vị, chức quan mà là tài danh, là việc làm rạng danh đất nước.

Người mang cái tôi đi lừng lững giữa đời

Thời phong kiến, vua là trời. Không ai được quyền có cái tôi, chỉ có bổn phận của thần dân. Chỉ có Nguyễn Công Trứ là người ngất ngưởng, tự nhận mình là người tài giỏi, và dùng cái tài giỏi ấy để chơi với đời: “Trời đất cho ta một cái tài /Giắt lưng dành để tháng ngày chơi; Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông/ Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng…”. Nghìn xưa người tài không thiếu, nhưng coi cá nhân mình, coi cái tài của mình như một lực lượng riêng, một triều đình riêng như Nguyễn Công Trứ thì chưa từng có!

Ông có nhiều công trạng trong việc đánh giặc ngoại xâm, dẹp loạn, ổn định chính trị; trong khai khẩn đất đai, thủy lợi… dân gian còn nhớ. Lẽ xuất - xử, hành- tàng của nhà nho đơn giản là “tiến vi quan thoái vi sư”, được trọng dụng thì làm quan, không được trọng dụng thì làm thầy, lui nữa thì về ở ẩn. Chính trị xưa, vì thiên bảo vệ ngôi báu và lợi ích cục bộ, thường hay dùng bọn ác nhân vô đạo, hay thực thi gian trá, bạo tàn, nên ở ẩn là con đường mà những người biết liêm sỉ thường lựa chọn. Vì thế, mà người ta ca ngợi, tôn thờ ông Đào Tiềm hơn là ca ngợi những ông tể tướng giỏi như Quản Trọng, Vương An Thạch… Vì thế mà đêm dài trung cổ đã dài lại kéo dài thêm vì người có tài đức không được trọng dụng, người có tài đức thường hay thúc thủ.

Nguyễn Công Trứ không coi con đường ấy là con đường của mình. Ông vào đời cũng không theo kiểu xuất thế của nhà nho với phận sự của bầy tôi. Ông coi mọi việc đời, mọi việc trong vũ trụ, việc gì cũng là việc của mình: “Vũ trụ nội mạc phi phận sự!”. Thông điệp từ cuộc đời của Nguyễn Công Trứ cho ta thấy: Mỗi người có trách nhiệm là một ông vua; và đã có trách nhiệm thì trách nhiệm ấy chính là ông vua của mình! Sở thích không hại đến ai, đấy chính là ông vua của mình, lẽ sống của mình!

Nguyễn Công Trứ có cái tôi phóng dật.

Nhưng ông còn một cái tôi khác, quan trọng hơn, là cái tôi trách nhiệm.

Năm Thiệu Trị thứ tư 1844, đang làm Tuần vũ An Giang, Nguyễn Công Trứ bị Nguyễn Công Nhàn vì đố kỵ, vu cáo Công Trứ chở thuyền gian, ngầm thu mua hàng cấm (sừng tê giác). Ông bị cách hết chức tước, bắt làm lính trơn sung vào đội quân tuần thú (giống như bộ đội biên phòng) ở Quảng Ngãi. Đến Quảng Ngãi, Tuần vũ tỉnh ấy thấy Nguyễn Công Trứ, nguyên mệnh quan triều đình, lại đã 65 tuổi rồi mà phải mặc áo ngắn, đội nón dấu, đeo dao tu thì rất ái ngại, định lấy đồ khác thay cho đồ lính, Nguyễn Công Trứ vội ngăn:

- Xin ngài cứ để vậy. Lúc làm Đại tướng tôi không lấy làm vinh, thì nay làm tên lính tôi cũng không lấy làm nhục. Người ta ở địa vị nào, có nghĩa vụ đối với địa vị ấy, làm lính mà không mang đồ ấy thì sao gọi là lính được!

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn