Nguyễn Công Tường – Người lính kéo pháo giữa Trường Sơn lửa đạn
Bài viết tái hiện cuộc đời và chiến công của Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Nguyễn Công Tường – người lính lái xe kéo pháo gắn bó với tuyến đường Trường Sơn trong kháng chiến chống Mỹ. Từ những năm tháng bom đạn ác liệt đến chiến dịch Quảng Trị 81 ngày đêm, ông luôn thể hiện tinh thần sáng tạo, dũng cảm và ý chí kiên cường của người lính “Trung dũng – Quyết thắng”.
Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Nguyễn Công Tường hiện sinh sống tại xã Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Trong ký ức chiến tranh, ông và người viết từng cùng phục vụ trong lực lượng lái xe kéo pháo thuộc Đại đội 13, Trung đoàn 280, Sư đoàn 367, Quân chủng Phòng không – Không quân. Từ những ngày ở Trường Sơn khốc liệt, hai người quen biết nhau, nhưng phải gần ba thập kỷ sau ngày đất nước thống nhất mới có dịp gặp lại.
Nhắc về những năm tháng chiến tranh, ký ức đầu tiên mà ông kể lại là mùa khô năm 1966, tại trọng điểm ngầm Cà Roòng trên Đường 20 Quyết Thắng. Khi đơn vị pháo cao xạ hành quân qua khu vực này thì bất ngờ bị máy bay địch tập kích dữ dội. Trận bom đã gây tổn thất nặng nề, nhiều chiến sĩ hy sinh và bị thương, phương tiện, pháo bị hư hỏng nghiêm trọng. Trong khung cảnh hỗn loạn ấy, ông chứng kiến hình ảnh một người lính cao lớn, xông xáo không ngừng để thu dọn hiện trường, hỗ trợ thương binh và khẩn trương giải tỏa đội hình trước khi trời sáng.
Ít ngày sau, ông lại gặp người chiến sĩ ấy trong một lần nhận hàng tại kho hậu cần. Khi biết cùng quê Thanh Hóa, giữa chiến tranh gian khó, sự gặp gỡ ấy trở thành một kỷ niệm đặc biệt. Nhưng rồi đơn vị lại tiếp tục hành quân, mỗi người một nhiệm vụ, và phải đến nhiều năm sau chiến tranh họ mới có cơ hội gặp lại.
Sau ngày đất nước hòa bình, đến dịp kỷ niệm 50 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (12/1994), hai người mới tái ngộ tại quê nhà. Cuộc gặp sau gần 30 năm xa cách vừa vui mừng, vừa lắng đọng, khi cùng nhau ôn lại những năm tháng chiến đấu không thể nào quên.
Nguyễn Công Tường kể lại, cuối năm 1967, đơn vị ông được giao nhiệm vụ kéo pháo bảo vệ khu vực phà Xuân Sơn trên Đường 15 và tham gia chiến đấu tại bờ Bắc bến phà vào đầu năm 1968. Trong trận đánh đó, sau khi đơn vị bắn rơi hai máy bay địch, đối phương lập tức tổ chức phản kích dữ dội kéo dài hàng giờ. Nhiều chiến sĩ hy sinh, bị thương, pháo hư hỏng nặng. Trong đêm, ông vừa lái xe vận chuyển thương binh về tuyến sau, vừa tham gia kéo pháo sang bờ Nam Xuân Sơn để xây dựng trận địa mới tại khu vực cửa rừng Đường 20.
Trong quá trình chiến đấu và bảo đảm hậu cần, ông luôn nhận được sự hỗ trợ của các nữ dân quân từ làng Cù Lạc bên bờ Nam, góp phần quan trọng trong việc duy trì tuyến vận tải và bảo vệ lực lượng. Sau khi Mỹ tạm ngừng đánh phá miền Bắc, đơn vị ông tiếp tục cơ động sâu vào tuyến cửa khẩu, bảo vệ các trọng điểm chiến lược trên tuyến Trường Sơn.
Giai đoạn 1969–1970, dù chiến tranh vẫn vô cùng ác liệt, ông vẫn đảm nhiệm nhiệm vụ vận chuyển đạn dược, lương thực từ các cụm kho C tại km 69–70 của Binh trạm 14. Những chuyến xe phải vượt qua các trọng điểm đánh phá, có khi di chuyển ban ngày trên những tuyến đường vừa được mở giữa rừng sâu, luôn tiềm ẩn nguy hiểm.
Đến đầu năm 1971, khi Mỹ – ngụy mở cuộc hành quân Lam Sơn 719 đánh vào Hạ Lào nhằm cắt đứt tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn, đơn vị pháo của ông nhận lệnh tham gia chiến dịch. Trong điều kiện địa hình hiểm trở, dốc cao trơn trượt 300–400m, xe kéo pháo gần như không thể vượt qua. Trước tình thế đó, Nguyễn Công Tường cùng đồng đội đã nghĩ ra cách hạ pháo, dùng tời kéo từng khẩu qua dốc, neo dây vào gốc cây để đưa pháo lên phía trên. Suốt cả đêm, họ kiên trì đưa được toàn bộ sáu khẩu pháo vượt dốc, kịp thời chi viện cho chiến dịch.
Kết thúc chiến dịch, ông được bầu là Chiến sĩ Quyết thắng và được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba. Đầu năm 1972, đơn vị tiếp tục tham gia chiến dịch Quảng Trị. Trong trận chiến ngày 15/5/1972 tại bến Than, giữa làn bom đạn dữ dội, ông xông vào dập lửa, cứu pháo, góp phần giữ lại hai khẩu pháo cho đơn vị tiếp tục chiến đấu. Chính tinh thần dũng cảm ấy đã lan tỏa, cổ vũ đồng đội vượt qua hiểm nguy trong chiến dịch 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị.
Trong những ngày ác liệt ấy, đơn vị ông bắn rơi hai máy bay địch và tiêu diệt nhiều lực lượng đối phương. Bản thân ông cũng bị thương ở bụng và chân nhưng vẫn tiếp tục bám trận địa sau khi được sơ cứu. Ông luôn day dứt khi nhắc đến đồng đội hy sinh, đặc biệt là một chiến sĩ trẻ tên Bình, mới 20 tuổi, vẫn còn ước mơ trở về quê lấy vợ sau chiến dịch, nhưng đã không kịp thực hiện.
Tháng 5/1973, Nguyễn Công Tường được cử ra miền Bắc báo cáo điển hình về những trận đánh tiêu biểu trên chiến trường Quảng Trị. Ở đâu ông cũng nhận được sự đón tiếp trân trọng, nhưng ông luôn xem đó là thành quả của tập thể và sự hy sinh của đồng đội. Sau tổng kết các chiến dịch, ông được tặng Huân chương Chiến công hạng Nhì. Đến ngày 31/12/1973, ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân khi mới 30 tuổi.
Sau năm 1975, ông tiếp tục phục vụ trong quân đội cho đến khi nghỉ hưu với quân hàm Thượng tá. Trở về quê nhà, ông tích cực tham gia công tác Hội Cựu chiến binh và Hội Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh. Ông nhiều lần được mời nói chuyện tại các trường học, chia sẻ về truyền thống quân đội và ký ức chiến trường, luôn giữ phong thái giản dị, khiêm tốn.
Trải qua nhiều nhiệm kỳ giữ vai trò Chủ tịch Hội Truyền thống Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh huyện Yên Định, ông góp phần xây dựng tổ chức hội vững mạnh, nhiều năm liền dẫn đầu tỉnh Thanh Hóa. Dù tuổi cao và vết thương chiến tranh vẫn còn hành hạ, ông vẫn giữ tinh thần lạc quan. Khi được hỏi về lựa chọn cuộc đời, ông chỉ cười giản dị: nếu được chọn lại, ông vẫn muốn làm người lính.



