Cựu chiến binh

NGUYỄN CÔNG XUÂN - NHỮNG NGÀY ĐẤT NƯỚC VỪA SANG TRANG

rong đời người, có lẽ không nhiều mối quan hệ có thể giữ ký ức theo một cách đặc biệt đến vậy: chỉ cần nhớ tới một người, cả một đoạn đời từng tưởng đã rất xa lại hiện ra.

Thanh Hóa16/09/2026Xã Thiệu Hóa (Xã Thiệu Hóa)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Một vết hằn trên lòng bàn tay không làm thay đổi hình dáng của bàn tay, nhưng nó cho biết con người đã từng đi qua thời gian và va chạm với cuộc đời. Quãng quân ngũ của tôi cũng ở lại theo cách như thế. Tôi là Nguyễn Công Xuân, sinh năm 1956, quê Thiệu Hóa. Năm 1976, khi khoảng hai mươi tuổi, tôi nhập ngũ, quãng phục vụ gắn với D2 E574 – Quân khu 5 và kéo dài đến năm 1981. Tôi bước vào quân đội trong một thời điểm rất đặc biệt: cuộc kháng chiến chống Mỹ đã kết thúc, đất nước vừa thống nhất, nhưng hòa bình mới chỉ là bước mở đầu cho một hành trình khác đầy gian nan. Sau hàng chục năm chiến tranh, cả nước phải bắt tay khắc phục hậu quả, ổn định đời sống và dựng lại những gì đã bị tổn thất. Vì thế, người thanh niên lên đường năm 1976 không còn mang tâm thế của lớp người nhập ngũ trước ngày thống nhất, nhưng vẫn bước vào hàng ngũ khi đất nước đang rất cần sức lực, sự kiên trì và tinh thần sẵn sàng bảo vệ những thành quả vừa giành được.

Tôi lớn lên trong những năm đất nước còn chiến tranh. Khi ngày toàn thắng năm 1975 đến, tôi mới khoảng mười chín tuổi – độ tuổi mà phía trước vẫn còn nguyên bao dự định của một người trẻ. Một năm sau, tôi vào quân đội. Sự chuyển tiếp ấy khiến tuổi thanh niên của tôi mang hai lớp ký ức rất khác nhau: phía sau là những năm đất nước còn chia cắt, phía trước là một Việt Nam thống nhất nhưng đang đứng trước vô vàn công việc phải làm. Hòa bình khi ấy không đồng nghĩa với đủ đầy. Những khó khăn kinh tế, hậu quả nặng nề của chiến tranh và yêu cầu củng cố quốc phòng vẫn hiện hữu. Trong hoàn cảnh đó, việc một thanh niên bước vào hàng ngũ cũng là tiếp tục một phần công việc mà thế hệ trước đã mở đường: giữ cho nền độc lập và thống nhất vừa có được đủ vững để đất nước có thể bắt đầu cuộc sống mới.

Rời Thiệu Hóa, tôi bước vào một đời sống khác với những gì đã quen. Khi còn ở quê, nhiều điều gần gũi đến mức ta tưởng chúng sẽ luôn ở bên mình; lúc đi xa mới hiểu sự thân thuộc ấy có sức nặng đến thế nào. Tôi nhớ người thân, nhớ cảm giác mình thuộc về một miền quê đã nuôi lớn mình. Nhưng nỗi nhớ không chỉ kéo lòng trở lại phía sau. Nó còn giúp tôi hiểu mình đang đi vì điều gì. Một quê hương muốn bình yên cần được đặt trong một đất nước bình yên; một gia đình muốn sống yên ổn cần có một Tổ quốc được gìn giữ. Từ những điều rất gần gũi ấy, tôi bắt đầu hiểu nghĩa vụ của người lính bằng một cách giản dị hơn mọi lời giải thích: đi xa để mai này những người mình thương có thể sống trong một đất nước không còn chia cắt.

D2 E574 – Quân khu 5 và những năm rèn mình

Quãng phục vụ của tôi gắn với D2 E574 – Quân khu 5. Không cần gắn thêm cho đơn vị hay bản thân những nhiệm vụ, địa bàn cụ thể ngoài những gì đã được xác nhận, tôi vẫn có thể nói rằng môi trường quân đội đã cho mình một chặng rèn luyện rất rõ nét. Một thanh niên mới hai mươi tuổi khi bước vào hàng ngũ phải học cách sống khác: giờ giấc không còn chỉ theo thói quen cá nhân, sinh hoạt gắn với tập thể, mỗi người phải biết tôn trọng nguyên tắc và điều chỉnh mình để hòa vào nếp chung. Chính từ những điều như vậy, tôi dần hiểu rằng kỷ luật không chỉ nằm trong mệnh lệnh. Phần sâu nhất của kỷ luật là khả năng tự kiểm soát mình khi không có ai nhắc, biết việc gì nên làm và biết đặt lợi ích của tập thể bên cạnh mong muốn của bản thân.

Những năm từ 1976 đến đầu thập niên 1980 là một giai đoạn không dễ dàng của đất nước. Việt Nam vừa ra khỏi cuộc chiến kéo dài, nguồn lực còn hạn chế, đời sống nhân dân còn nhiều thiếu thốn. Cuối thập niên 1970, các cuộc xung đột ở biên giới lại đặt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trước những thách thức mới. Tôi chỉ nhắc đến những sự kiện ấy như bối cảnh chung của thời kỳ mình còn trong quân ngũ, không gắn chúng với hoạt động cụ thể của bản thân khi không có dữ liệu xác thực. Nhưng chính hoàn cảnh rộng lớn ấy giúp một người trẻ như tôi hiểu rằng hòa bình không phải thời điểm mọi khó khăn lập tức khép lại. Sau ngày chiến thắng vẫn cần những con người đứng trong hàng ngũ, vẫn cần một quân đội có tổ chức và những người lính biết giữ sự nghiêm túc trong từng ngày phục vụ.

Năm tháng quân ngũ còn giúp tôi nhận ra sự trưởng thành không phải chuyện một sớm một chiều. Tuổi hai mươi thường có nhiều nhiệt tình nhưng cũng có cả sự nóng vội. Tôi từng bước học cách bớt hấp tấp, hiểu rằng không phải việc gì cũng có thể giải quyết theo ý muốn tức thời. Có những hoàn cảnh buộc con người phải kiên nhẫn, có những điều chỉ thời gian mới trả lời được. Khi sống trong một tập thể lớn, mình càng phải biết dừng lại trước khi phản ứng, biết nhìn phần ảnh hưởng của mình đối với người bên cạnh. Chính từ những thay đổi âm thầm ấy, quân ngũ trở thành một trường học đặc biệt của đời người – không trao bằng cấp, nhưng để lại một nếp nghĩ đủ sức theo con người rất lâu sau khi đã trở về cuộc sống bình thường.

Những người cùng đi qua một chặng hậu chiến

Nếu chỉ nhớ quân ngũ bằng những nguyên tắc và khó khăn, câu chuyện sẽ thiếu mất phần ấm áp nhất. Với tôi, đó là đồng đội. Chúng tôi gặp nhau khi còn trẻ, từ những miền quê khác nhau, mang theo nhiều tính cách và hoàn cảnh khác nhau. Ban đầu, mỗi người vẫn còn những khoảng riêng, nhưng thời gian sống chung khiến những khoảng cách ấy dần thu hẹp. Người ta bắt đầu nhận ra phía sau một vẻ ngoài mạnh mẽ cũng có thể là nỗi nhớ nhà, phía sau sự ít nói có khi là một tấm lòng rất tình nghĩa. Sống bên nhau lâu ngày, chúng tôi không cần biết hết cuộc đời của nhau vẫn có thể hiểu rằng mỗi người đều đang tự vượt qua phần khó của mình. Chính sự thấu hiểu đó khiến những ngày xa quê bớt nặng.

Tình đồng đội lớn lên bằng những việc rất đời thường. Đó là thái độ biết nghĩ đến người khác trước khi chỉ nghĩ đến mình, là khả năng cùng tồn tại với những tính cách không hoàn toàn giống nhau, là việc giữ sự tôn trọng ngay cả khi có những lúc chưa đồng ý với nhau. Một tập thể quân đội không thể chỉ dựa vào mệnh lệnh mà bền được; giữa con người còn cần có nghĩa tình. Tôi càng sống lâu trong đơn vị càng hiểu điều ấy. Khi một người cảm thấy mình được tôn trọng và không bị bỏ lại phía ngoài, họ sẽ có thêm sức để vượt qua những thời điểm khó. Đồng đội không thể thay gia đình, nhưng trong những năm xa nhà, họ là những con người ở gần nhất, cùng chứng kiến từng bước trưởng thành của nhau.

Sau này, điều khiến tôi quý nhất là chính những người ấy đã lưu giữ cho nhau hình ảnh của một thời trai trẻ. Cuộc sống đưa mỗi người về một hướng, tuổi tác khiến gương mặt khác đi, nhưng khi nhớ về những năm ở D2 E574, tôi vẫn có thể hình dung mình của ngày mới vào quân đội: còn trẻ, còn nhiều điều phải học, còn chưa biết cuộc đời sau này sẽ đi về đâu. Đồng đội trở thành chiếc cầu đưa tôi trở lại phần con người ấy. Không phải để tiếc tuổi trẻ, mà để hiểu mình đã được lớn lên giữa những ai. Trong đời người, có lẽ không nhiều mối quan hệ có thể giữ ký ức theo một cách đặc biệt đến vậy: chỉ cần nhớ tới một người, cả một đoạn đời từng tưởng đã rất xa lại hiện ra.

Từ những năm đầu thống nhất đến ngày rời quân ngũ

Tôi nhập ngũ năm 1976, khi đất nước vừa bước qua ngày thống nhất. Đó là lúc cả dân tộc phải chuyển từ mục tiêu chiến đấu sang khôi phục, xây dựng và bảo vệ thành quả của chiến thắng. Công việc ấy không hề nhẹ hơn chỉ vì chiến tranh chống Mỹ đã kết thúc. Một đất nước bị tổn thất nặng nề cần thời gian rất dài để ổn định, và trong những năm ấy, mỗi lực lượng đều phải tiếp tục đảm nhận phần của mình. Với người lính, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc vẫn còn nguyên ý nghĩa. Nhìn lại từ hôm nay, tôi càng hiểu thế hệ nhập ngũ sau năm 1975 đứng ở một vị trí đặc biệt: chúng tôi không trực tiếp sống quãng quân ngũ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, nhưng lại nhận phần trách nhiệm của những năm đầu hòa bình, khi nền thống nhất còn mới và đất nước đang vừa dựng xây vừa đối diện với những thử thách mới.

Đến năm 1981, tôi rời quân ngũ khi khoảng hai mươi lăm tuổi. Từ hai mươi đến hai mươi lăm là khoảng thời gian một người thay đổi rất nhiều. Tôi vào quân đội với sự hăng hái và cả những bỡ ngỡ của tuổi trẻ; khi trở về, điều lớn nhất mang theo không phải một câu chuyện nổi bật, mà là sự chín hơn trong cách nhìn đời. Tôi biết một công việc muốn làm đến nơi cần kiên nhẫn, một mối quan hệ muốn giữ lâu cần sự tôn trọng, và trước khó khăn không phải lúc nào phản ứng nhanh nhất cũng là cách tốt nhất. Tôi cũng hiểu nỗi nhớ quê ngày lên đường đã biến thành một sự gắn bó sâu hơn: quê hương không chỉ đáng quý khi mình xa nó, mà càng đáng quý khi được trở về và biết mình đã có một phần tuổi trẻ từng đứng trong hàng ngũ để góp vào sự yên ổn chung.

Năm 1981, đất nước vẫn còn ở một chặng hậu chiến đầy thiếu thốn. Con đường phía trước còn dài, công cuộc Đổi Mới phải đến năm 1986 mới bắt đầu. Bởi vậy, trở về đời thường khi ấy cũng là bắt đầu một cuộc thích nghi khác. Nhưng năm năm quân ngũ đã cho tôi một nền tảng để bước tiếp: không quá nôn nóng trước khó khăn, biết điều gì cần thời gian và hiểu rằng một cuộc sống tốt đẹp phải được gây dựng bằng nhiều ngày lao động bình dị. Quân đội ở lại phía sau về mặt thời gian, nhưng những gì đã được rèn trong quân ngũ không nằm lại ở quá khứ. Chúng đi theo người lính vào cuộc sống mới, trở thành cách suy nghĩ, cách ứng xử và cách đối diện với những đổi thay không ngừng của đời thường.

Lời biết ơn dành cho một thế hệ đứng sau ngày thống nhất

Nhiều năm nhìn lại, tôi càng thấy những người lính nhập ngũ sau năm 1975 cũng xứng đáng được nhớ bằng sự trân trọng riêng. Họ bước vào hàng ngũ khi đất nước đã thống nhất, nhưng hòa bình còn rất non trẻ, đời sống còn bộn bề và nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc chưa bao giờ mất đi. Phần đóng góp ấy có thể không được kể bằng những câu chuyện của chiến tranh chống Mỹ, nhưng vẫn thuộc về một giai đoạn rất quan trọng: giữ cho đất nước vừa liền một dải có đủ thời gian và sự ổn định để từng bước dựng lại. Tôi là một người trong lớp ấy, từng dành những năm đầu của tuổi trưởng thành cho D2 E574 – Quân khu 5. Với tôi, điều đáng quý nhất không phải được nhìn nhận như một con người đặc biệt, mà là biết mình từng có mặt trong hàng ngũ vào lúc đất nước cần tiếp tục được bảo vệ và gây dựng.

Hòa bình hôm nay đã đi một quãng rất xa so với những năm cuối thập niên 1970. Người trẻ có những điều kiện và cơ hội mà thế hệ chúng tôi khi bằng tuổi họ chưa thể hình dung hết. Đó là điều đáng mừng, bởi người đi trước chịu khó khăn không phải để người sau tiếp tục chịu khó khăn giống mình. Nhưng cuộc sống tốt đẹp hơn càng cần đi cùng sự hiểu biết về những gì đã có trước đó. Khi một người biết đất nước từng phải bắt đầu lại từ rất nhiều thiếu thốn, biết đã có những thanh niên rời quê trong những năm vừa hết chiến tranh để tiếp tục đứng trong quân đội, họ sẽ hiểu sự yên ổn hôm nay có chiều sâu hơn những gì nhìn thấy trước mắt. Từ sự hiểu ấy, lòng biết ơn trở thành một thái độ sống chứ không phải một câu phải thuộc.

Mỗi đời người giống một đường vân riêng trên lòng bàn tay: không ai có đường giống hệt ai, nhưng tất cả đều cho thấy một hành trình đã hiện diện. Quãng quân ngũ của người lính năm xưa cũng vậy. Không cần làm nó sáng hơn bằng những chi tiết chưa từng được xác nhận. Chỉ cần giữ lại sự thật giản dị rằng đã có những con người đi vào hàng ngũ trong những năm đầu đất nước thống nhất, cùng nhau sống, rèn mình và gìn giữ một phần nền bình yên cho mai sau. Khi con cháu còn biết trân trọng những phần đời bình dị như thế, quá khứ sẽ không bị phủ bụi. Nó tiếp tục tồn tại trong cách người hôm nay yêu quê hương, biết quý sự thống nhất và hiểu rằng sự bình yên của một đất nước luôn đáng được nâng niu bằng cả lòng biết ơn lẫn cách sống tử tế.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
NGUYỄN CÔNG XUÂN - NHỮNG NGÀY ĐẤT NƯỚC VỪA SANG TRANG | Câu chuyện thời hoa lửa