Nguyễn Đắc Thắng – mệnh lệnh hủy Tàu 43 giữa vòng vây
Rạng sáng 1/3/1968, Tàu 43 chở 37 tấn vũ khí bị bao vây ngoài khơi Đức Phổ. Sau hơn ba giờ chiến đấu, Thuyền trưởng Nguyễn Đắc Thắng ra lệnh hủy tàu để giữ bí mật tuyến vận tải.
Rạng sáng ngày 1 tháng 3 năm 1968, trên vùng biển Đức Phổ, Quảng Ngãi, một con tàu nhỏ chở 37 tấn vũ khí bị bốn tàu chiến, nhiều tàu cao tốc và máy bay đối phương bao vây. Con tàu mang số hiệu 43, thuộc Đoàn 125 Hải quân. Người chịu trách nhiệm chỉ huy cao nhất là Thuyền trưởng Nguyễn Đắc Thắng, sau này được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Nguyễn Đắc Thắng tên thật là Nguyễn Văn Chín, quê huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Khi nhập ngũ, ông đổi tên và gắn bó với lực lượng vận tải quân sự bí mật trên biển ngay từ những ngày đầu. Những con tàu của đơn vị không mang số hiệu cố định khi hoạt động, được cải dạng thành tàu đánh cá hoặc tàu vận tải dân sự để vượt qua hệ thống tuần tra và phong tỏa dày đặc.
Đầu năm 1968, chiến trường Khu 5 cần được tăng cường vũ khí phục vụ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân. Tàu 43 được giao chở 37 tấn vũ khí vào huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi. Trên tàu có 17 cán bộ, thủy thủ do Thuyền trưởng Nguyễn Đắc Thắng và Chính trị viên Trần Ngọc Tuấn chỉ huy.
Ngày 27 tháng 2 năm 1968, Tàu 43 rời căn cứ, cùng thời điểm với ba tàu không số khác được giao đi vào các bến thuộc chiến trường miền Trung và Nam Bộ. Mỗi tàu xuất phát theo phương án riêng để phân tán sự theo dõi, nhưng tất cả đều phải vượt qua vùng biển mà đối phương kiểm soát bằng tàu chiến, máy bay và các thiết bị trinh sát.
Hành trình của Tàu 43 diễn ra trong gió lớn và biển động. Dù đã ngụy trang kín đáo, tàu vẫn bị máy bay và tàu chiến nghi ngờ, bám theo. Cán bộ, thủy thủ giữ bình tĩnh, giả làm ngư dân đánh bắt cá và tiếp tục cơ động trên biển. Mục tiêu là giữ bí mật lâu nhất có thể để tiếp cận bến giao hàng.
Sau hai ngày vượt sóng, tàu chuyển hướng vào vùng biển Quảng Ngãi. Khoảng 0 giờ 50 phút ngày 1 tháng 3, khi còn cách khu vực bờ biển Quy Thiện, Phổ Hiệp, huyện Đức Phổ, Tàu 43 bị phát hiện. Pháo sáng lập tức được bắn lên, biến mặt biển đêm thành một vùng sáng rõ. Vòng vây từ biển và trên không bắt đầu khép lại.
Bốn tàu chiến đối phương tiến vào đội hình bao vây. Sau đó, nhiều tàu cao tốc tổ chức từng đợt áp sát, trong khi máy bay trực thăng bắn phá từ trên cao. Phía trong đất liền cũng là khu vực phòng thủ dày đặc. Tàu 43 rơi vào tình thế không thể bí mật rút ra biển và cũng chưa thể đưa hàng vào bến.
Trước tình thế ấy, tập thể tàu xác định phải chiến đấu. Chính trị viên Trần Ngọc Tuấn gửi điện báo cáo về sở chỉ huy với nội dung ngắn gọn: Tàu 43 gặp địch vây đánh, quyết đánh trả và hủy tàu. Thuyền trưởng Nguyễn Đắc Thắng cho tiêu hủy tài liệu, bố trí lực lượng vào các vị trí chiến đấu và trực tiếp chỉ huy con tàu cơ động tránh hỏa lực.
Đối phương có ưu thế vượt trội về số lượng và phương tiện. Tàu 43 chỉ là tàu vận tải nhỏ, chở đầy vũ khí, không được thiết kế để đối đầu trực diện với một đội hình tàu chiến. Tuy nhiên, cự ly gần cũng tạo cơ hội để các khẩu súng trên tàu phát huy hiệu quả. Nguyễn Đắc Thắng bình tĩnh chờ tàu cao tốc vào gần rồi mới ra lệnh bắn.
Khi mục tiêu còn cách khoảng 150 mét, hỏa lực của Tàu 43 đồng loạt khai hỏa. Sự chống trả quyết liệt và bất ngờ gây thiệt hại cho lực lượng vây đánh. Trong hơn ba giờ chiến đấu, cán bộ, thủy thủ sử dụng súng máy 12,7mm, đại liên, trung liên, ĐKZ cùng bom chìm và bộc phá để đánh trả tàu cao tốc và trực thăng.
Cuộc chiến ngày càng ác liệt. Tàu 43 trúng nhiều phát đạn, thân tàu chao đảo và khả năng cơ động giảm dần. Ba thủy thủ hy sinh, mười hai người bị thương. Một số vị trí chiến đấu mất sức chiến đấu, nhưng những người còn khả năng vẫn thay nhau giữ lái, nạp đạn và bắn trả.
Theo tư liệu của Báo Quân đội nhân dân, Tàu 43 đã bắn rơi ba máy bay trực thăng HU-1A và làm hư hại một số tàu cao tốc. Những con số ấy cho thấy mức độ quyết liệt của trận đánh: một con tàu vận tải nhỏ, trong thế bị bao vây, vẫn chống trả được đội hình có ưu thế lớn về hỏa lực và phương tiện.
Nguyễn Đắc Thắng hiểu rằng nếu tiếp tục giữ tàu giữa vòng vây, đối phương có thể chiếm được phương tiện, số vũ khí và những dấu vết liên quan đến tuyến vận tải bí mật. Phương án cuối cùng đã được chuẩn bị từ trước cho tình huống không còn đường thoát: hủy tàu, tuyệt đối không để bí mật rơi vào tay địch.
Thuyền trưởng ra lệnh cho đồng đội rời tàu và bơi vào bờ. Dù phần lớn đều đã bị thương, 14 người còn sống vẫn dìu nhau vượt qua làn nước trong khi địch tiếp tục truy kích. Khi họ bơi cách tàu khoảng 200 mét, khối bộc phá cài sẵn được kích nổ. Tàu 43 cùng 37 tấn vũ khí bùng lên thành một quầng lửa trên biển.
Mệnh lệnh hủy tàu là một quyết định đau đớn nhưng cần thiết. Con tàu là phương tiện chiến đấu, là nơi đồng đội đã cùng sống và vượt biển; số vũ khí trên tàu được chiến trường mong chờ. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh không thể hoàn thành việc giao hàng, bảo vệ bí mật của Đường Hồ Chí Minh trên biển có ý nghĩa lớn hơn việc giữ lại một phương tiện đã mất khả năng thoát khỏi vòng vây.
Cả 14 cán bộ, thủy thủ còn sống vào được bờ. Ba người đã hy sinh trong trận đánh; mười hai trong số những người sống sót mang thương tích. Trên đất liền, họ vẫn đối diện nguy cơ bị truy lùng. Nhân dân và du kích địa phương đã phát hiện, che chở, chăm sóc và tổ chức đưa các thủy thủ rời khỏi khu vực nguy hiểm.
Mười ngày sau, vào ngày 10 tháng 3, những người lính Tàu 43 được chuyển về trạm phẫu thuật tiền phương của bác sĩ Đặng Thùy Trâm ở vùng núi Ba Tơ. Bệnh xá giữa rừng thiếu thốn đủ thứ, nhưng các y, bác sĩ vẫn dành sự chăm sóc chu đáo cho những thủy thủ bị thương. Họ không hỏi nhiều về nhiệm vụ bí mật, chỉ biết đây là những người lính vừa đi qua một trận chiến dữ dội.
Trong những ngày điều trị, thủy thủ Tàu 43 và cán bộ bệnh xá cùng chia sẻ cuộc sống gian khổ ở chiến trường. Một số người khi sức khỏe khá hơn còn tham gia bảo vệ thương binh và bảo vệ bệnh xá. Hình ảnh những người lính biển xuất hiện trong nhật ký của bác sĩ Đặng Thùy Trâm như những người anh, người em để lại nhiều thương nhớ sau khi rời đi.
Cuộc trở về của Nguyễn Đắc Thắng và đồng đội cũng là một hành trình dài. Họ phải vượt qua vùng địch kiểm soát, dựa vào sự giúp đỡ của nhân dân và lực lượng địa phương để trở lại đơn vị. Trong một thời gian, có tin rằng toàn bộ Tàu 43 đã hy sinh. Ở quê nhà và trong lòng những người thân, đó là quãng thời gian đau đớn trước khi biết những người sống sót vẫn còn.
Trận đánh của Tàu 43 là một trong bốn chuyến đi đặc biệt trong đợt vận tải phục vụ chiến trường năm 1968. Cùng thời điểm, Tàu 165 hướng vào Cà Mau, Tàu 235 vào Khánh Hòa và Tàu 56 tìm cách đến Bình Định. Mỗi con tàu mang một nhiệm vụ, một số phận khác nhau; tất cả đều cho thấy mức độ hiểm nguy của tuyến vận tải chiến lược trên biển.
Nguyễn Đắc Thắng sau này mang quân hàm Đại tá và được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Nhưng danh hiệu không làm câu chuyện của ông trở thành chiến công của riêng một người. Mọi quyết định trên Tàu 43 đều gắn với tập thể 17 cán bộ, thủy thủ, với Chính trị viên Trần Ngọc Tuấn và những chiến sĩ đã giữ từng vị trí đến phút cuối.
Điều nổi bật ở người thuyền trưởng là khả năng giữ bình tĩnh trong tình thế gần như không còn lối thoát. Ông phải liên tục lựa chọn: tiếp tục nghi binh hay chuyển sang chiến đấu, cơ động ra sao trước vòng vây, khi nào cho hỏa lực khai hỏa và thời điểm nào buộc phải hủy tàu. Mỗi quyết định đều liên quan trực tiếp đến sinh mạng đồng đội và bí mật chiến lược.
Ngày nay, khi nhắc đến Tàu 43, người ta nhớ tới quầng lửa ngoài khơi Đức Phổ. Nhưng trước quầng lửa ấy là hơn ba giờ chiến đấu, là ba người lính đã hy sinh, là mười hai người bị thương và là 14 con người dìu nhau bơi vào bờ. Sau quầng lửa ấy là vòng tay che chở của nhân dân Quảng Ngãi và bệnh xá của bác sĩ Đặng Thùy Trâm.
Câu chuyện của Nguyễn Đắc Thắng vì thế không kết thúc ở mệnh lệnh hủy tàu. Nó tiếp tục trong sự sống sót của đồng đội, trong bí mật tuyến đường được giữ vững và trong tình quân dân đã đưa những người lính bị thương vượt qua cuộc truy lùng. Đó là một chiến công được tạo nên bởi bản lĩnh chỉ huy, lòng dũng cảm của thủy thủ và sự chở che của nhân dân.
Giữa biển đêm ngày 1 tháng 3 năm 1968, Nguyễn Đắc Thắng đã chọn phá hủy chính con tàu mình chỉ huy để không một tài liệu, phương tiện hay số vũ khí nào rơi vào tay đối phương. Quyết định ấy là hình ảnh cô đọng của người lính Đường Hồ Chí Minh trên biển: sẵn sàng mất con tàu, chấp nhận hy sinh, nhưng quyết giữ bằng được bí mật và danh dự của nhiệm vụ.


