Bài viết

Nguyễn Đại Quang Nam

Hưng Yên07/01/2026Ông Nguyễn Khắc Lầu (10a6)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ông Nguyễn Khắc Lầu (Cựu chiến binh, giảng viên đại học trường trính trị Nguyễn Văn Linh),1948, đang sinh sống ở thôn Xuân Đình, xã Triệu Việt Vương (Hàm Tử cũ), tỉnh Hưng Yên

* Một số hiện vật còn sót lại từ thời chiến tranh mà ông đã chia sẻ với em

Tôi tên Nguyễn Khắc Lầu, tôi ở trung đoàn 64 sư đoàn 320A do đất nước lâm nguy người dân khổ đau khói đạn khốc liệt nên tôi đã quyết định nhập ngũ và đã công tác hơn 10 năm ở miền nam công hiến công lao cho đất nước.

Năm 1971, tôi hành quân cùng trung đoàn từ Nghệ An đi theo đường mòn Hồ Chí Minh đi vào 95 lào Lữ Đoàn 3 của ngụy đổ bộ ra Nam Lào. Được lệnh của bộ đánh và tiêu diệt bắt sống toàn bộ chỉ huy lữ dù 3. sau đó tiếp tục hành quân vào Tây Nguyên, trung đoàn 64 đánh động Đắc Tô Tân Cảnh và đóng quân ở Gia Lai Kom Tum.

Năm 1972, Mỹ dùng B52 đánh vào Kon tum suốt ngày đêm, và cả pháo 105 bắn vào căn cứ của tôi. Đặc điểm địa hình ở đây rất hiểm trở núi cao đi lại rất khó khăn, nhất là mùa mưa xe tiếp tế không thể vào đc do quân địch đã đánh chận các lối mòn nên quân đội đã lâm vào cảnh thiếu lương thực, thuốc men. Chúng tôi chỉ còn còn cách hái rau rừng và bẻ măng ăn uống cầm cự. Trong rừng có một căn bệnh chủ yếu đó là sốt rét căn bếnh ấy đã cướp đi nhiều mạng người.

Chiều 1/1972, tôi đang trú quân tại Kom Tum thì bỗng nhiên Mỹ đánh bom B52 vào căn cứ, đây là trận đánh kinh hoàng và suýt đã khiến phải tử trận, nó ném vào hầm của đội tôi, lũ ác độc ấy đã cướp đi hàng chục sinh mạng đáng thương. Tôi vừa chạy ra khỏi hầm thì ngay lập tức cả hầm chú ẩn nổ tung tôi bị sóng xung kịch đánh bay ra xa bất tỉnh, ý thức mơ hồ, quần áo tôi bung hết đường chỉ, màng nhĩ tôi đẫm máu (do sức ép của B52) và bị chôn vùi trong đóng đất. một lúc sau, tôi nghe thấy tiếng “đồng chí ơi tỉnh dậy đi” tiếng đào bới hô hoán gấp gáp, mọi người lôi tôi ra, tôi nghĩ rằng tôi đã không còn sống trên đời này nữa nhưng thật sự rất may mắn tôi vẫn còn thở. Xe cứu thương nhanh chóng đến tiếp ứng và đã đã cứu chữa kịp thời trong bệnh viện hậu phương 2 tháng. Sau khi ra viện tuy tôi chưa thực sự bình phục nhưng tôi đã quay trở lại đơn vị để tiếp tục công tác.
Đâu năm 1973, Mỹ và chính quyền Việt Nam kí kết hiệp định Paris. Trước khi hai bên ngừng bắn Mỹ đã ném B52 suốt ngày đêm rất khốc liệt.

Sau khi hiệp định Paris kí kết, đơn vị tôiđược điều dành dật dữ chốt, tự túc tăng gia sản xuất cung cấp lương thực nuôi quân.

Năm 1975, sau khi Mỹ rút chính quyền của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vi phạm hiệp định paris và tiếp tục đánh chiếm vùng đất giải phóng.

Tháng 3/1975, đơn vị tôi tổng tiến quân Buôn Mê Thuật giải phóng Buôn Mê Thuật, tổng thống Thiệu gia lệnh”tùy nghi di tản” và co cụm về Sài Gòn đơn vị tôi được bộ quốc phòng lệnh thần tốc đánh để giải phóng Sài Gòn.

Ngày 29/4/1975, đánh căn cứ Đồng Dù Củ Chi, đây chiến ác liệt quân địch, chúng đi tới đâu là cằn quét tới đó không một chút lương tâm, tôi rất tực giận với chúng nhưng tôi đã lấy lại tình thần quyết tâm đồng lòng cùng trung đoàn chiến đấu không sợ chết, hai bên chiến đấu đầy đẫm máu, lúc ấy tôi bị chúng siết cổ nhưng tôi không hềhoảng loạn, trong túi tôi lúc nào cũng trang bị một con dao găm nên tôi đã rút ra và đâm vào bụng nó sau đó kết liễu nó, do hiểu về địa hình cùng lực lượng khá đông và quân ta đã bị thương tích và huy sinh rất lớn nhưng Củ Chi vẫn đươch giải phóng nhanh chóng. Đánh xong đơn vị tiếp tục hành quân về Sài Gòn.

9h ngày 30/4/1945 đơn vị chúng tôi có mặt ở Hóc Môn chiển khai nấu cơm ăn trưa, nhưgn lại bất ngờ nhận được lệnh của bộ quốc phòng thần tốc giải phóng Sài Gòn. Lúc đó, đơn vị tôi không có điều kiện mà vẫn còn cách Sài Gòn 30Km, hành quân toàn bằng đường bộ không có xe nên phải ra đường phố bắt xe với yêu cầu tiếp quản dinh độc lập.

Vào lúc 11h30p ngày 30/4/1975, đơn vị tôi đã vào dinh đoàn tăng. Ông Dương Văn Minh đã đầu hàng dinh độc lập hoàn toàn được gải phóng dân vẫy tay chào chúng tôi. Cảm xúc vui sướng mọi người ăn mừng hò reo. Niềm tự hào ấy cho đến bậy giờ vẫn chưa hề bị phai nhòa mà vẫn được tiếp thu lan tỏa và phát triển mạnh mẽ trong thời đợi ngày nay, những điều này thể hiện một lòng yêu nước vô bờ, cùng sự biết ơn cho những anh hừng liệt sĩ ngoài kia.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn