Nguyễn Đăng Khoa
Trở về từ chiến trường K khốc liệt, ông Nguyễn Đăng Khoa luôn ám ảnh bởi một giấc mơ về những đồng đội đã hy sinh. Để rồi suốt 23 năm qua, ông mải miết đi tìm tên cho những ngôi mộ liệt sĩ vô danh.
Chỉ còn lại một mình
Thắp nén nhang lên những ngôi mộ liệt sĩ vô danh ở nghĩa trang Bình Giang, xã Bình Khẻ, tỉnh Gia Lai (trước đây là xã Bình Giang, H. Tây Sơn, tỉnh Bình Định), ông Nguyễn Đăng Khoa (61 tuổi, ở địa phương nói trên) như lặng đi. Nhiều năm qua, ông đã phối hợp cùng các cơ quan, đơn vị tìm lại tên cho 18 liệt sĩ ở đầy nhưng đều vô vọng.
Ông kế rằng, năm 1982, ông nhập ngũ, được biên chế vé Đại đội 14, Trung đoàn 95, Sư đoàn 307, lên đường sang Campuchia làm nhiệm vụ quốc tế. Với thể hình cao lớn, ông được giao trọng trách làm xạ thủ súng máy 12 ly 7. Trong đội hình 7 người, mỗi người phụ trách một phần của khẩu súng máy, luôn kế vai sát cánh như một khối thép gắn chặt. "Khẩu đội chúng tôi thường là mục tiêu đầu tiên mà quân địch nhắm tới, bởi hỏa lực mạnh có thể áp chế và mở đường cho bộ binh tiến lên", ông nhớ lại.
Những ngày tháng ở chiến trường K, ông Khoa nhiều lần đối diện cái chết. Một lần hành quân, quả mìn chống tăng phát nổ ngay bên đường, ông Khoa bị hất văng ra xa. Thoát chết nhờ bụi cây chống đỡ, nhưng chấn thương cột sống khiến ông thương tật 21% mãi đến hôm nay.
Trận đánh ám ảnh nhất đời ông diễn ra vào năm 1984, khi đơn vị ông nhận nhiệm vụ tấn công cứ điểm 547. Nơi đây quân Pol Pot xây dựng căn cứ quân sự mạnh nhất ở dãy Dangrek, tỉnh Preah Vihear. Cứ điểm được bảo vệ bởi hai sư đoàn thiện chiến 612 và 616, biến nơi đây thành "pháo đài thép".



