Nguyễn Đình Chiểu – Ngòi bút thép và ánh sáng của bậc Danh nhân văn hóa
Mất đi đôi mắt ở tuổi thanh xuân, Nguyễn Đình Chiểu không đầu hàng số phận mà dùng tâm nhãn để soi thấu nhân gian. Khước từ mọi sự mua chuộc của thực dân, ông biến ngòi bút thành thứ vũ khí sắc bén nhất đâm thẳng vào kẻ thù và bọn tay sai. Vừa bốc thuốc cứu người, vừa làm thơ đánh giặc, cụ Đồ Chiểu mãi là biểu tượng sáng ngời về đạo lý làm người và khí tiết kiên trung của kẻ sĩ Nam Bộ.

Trong dòng chảy của lịch sử tư tưởng và văn học Việt Nam, hiếm có nhân vật nào mà bi kịch cá nhân lại hòa quyện đến mức đau đớn và vĩ đại vào bi kịch dân tộc như Nguyễn Đình Chiểu. Giữa thế kỷ 19, khi bóng đen xâm lăng của thực dân Pháp phủ xuống bờ cõi, đất nước chìm trong đao binh, cụ Đồ Chiểu đã đứng lên từ bóng tối của đôi mắt mù lòa. Dưới lăng kính lý luận, cuộc đời và văn chương của ông là một biểu tượng tuyệt đích của triết lý nhân sinh: Khi ánh sáng thị giác tắt lịm, đó cũng là lúc nhãn quan tâm hồn và trí tuệ đạt đến độ thấu thị sâu sắc nhất về con người và thời cuộc.

Vượt qua bi kịch mù lòa, Nguyễn Đình Chiểu dùng tâm nhãn để soi thấu nhân gian, trở thành người thầy, người thầy thuốc và nhà thơ lớn của dân tộc.
Nỗi đau mất mẹ, hỏng cả hai mắt, đứt gánh công danh ở tuổi thanh xuân đủ sức đánh gục và hủy diệt ý chí của bất kỳ ai. Nhưng với Nguyễn Đình Chiểu, sự vỡ vụn của thân phận lại là điểm khởi đầu cho một sự vươn lên mang chiều kích triết học. Ông khước từ sự thương hại của số phận, cự tuyệt mọi vinh hoa bính bạc mà kẻ thù giăng ra để chọn lấy chữ "Đạo".
Cái "Đạo" trong tác phẩm Lục Vân Tiên không dừng lại ở mớ lý thuyết Nho giáo giáo điều, mà vươn tới ánh sáng nhân bản của tình nghĩa thủy chung, của tinh thần “Kiến ngãi bất vi vô dõng dã”. Trong một xã hội nhiễu nhương, khi các giá trị đạo đức bị chà đạp bởi đạn đại bác và đồng tiền, văn chương Nguyễn Đình Chiểu hiện lên như một hệ trục tọa độ vững chắc, giúp con người bám lấy để giữ gìn thiên lương và phẩm giá.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.

Kiệt tác Lục Vân Tiên – Khúc tráng ca về đạo lý làm người và khát vọng hành hiệp trượng nghĩa, một "hệ trục tọa độ" đạo đức của người Nam Bộ.
Vượt lên trên chức năng giáo huấn, thi ca Nguyễn Đình Chiểu còn là một bản tuyên ngôn rực lửa về sứ mệnh của nghệ thuật và người cầm bút. Khúc triết lý "Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm / Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà" chính là đỉnh cao của mỹ học chiến đấu. Ngòi bút ấy không uốn lượn mơn trớn, không thi vị hóa nỗi đau mà trở thành ngọn giáo xuyên thủng lớp mặt nạ của những kẻ phản dân hại nước.
Hơn thế nữa, bằng “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”, ông đã thực hiện một cuộc cách mạng thực sự trong thi pháp học: Lần đầu tiên, những người nông dân lấm bùn, mặc áo vải, cầm giáo tre bước vào văn chương với tư cách là những hình tượng anh hùng bi tráng nhất. Đó là một cái nhìn biện chứng và vượt thời đại, thấu hiểu sâu sắc rằng cội rễ sức mạnh bảo vệ non sông không nằm ở triều đình rệu rã, mà nằm ở những người dân cày mang trái tim rực lửa yêu nước.

Danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Đình Chiểu để lại di sản vô giá về tư cách của người trí thức trước vận mệnh dân tộc.
Cụ Đồ Chiểu đã mang đôi mắt mù để nhìn thấu lẽ đời, dùng ngòi bút tạc vào không gian lịch sử một bức tượng đài sừng sững về khí tiết. Di sản của ông không chỉ là những trang thơ vần điệu, mà là bài học lý luận vô giá về tư cách đạo đức và trách nhiệm của người trí thức. Bóng tối đã giam cầm đôi mắt ông, nhưng chính từ nơi tăm tối ấy, thứ ánh sáng vĩnh cửu của bậc Danh nhân văn hóa thế giới lại bừng lên rực rỡ, vạch trần mọi sự giả dối và tiếp tục soi rọi lương tri của bao thế hệ người Việt.



