Nguyễn Đình Chiểu – Nhà thơ yêu nước, người thầy thuốc giàu nghị lực và khí phách
Nguyễn Đình Chiểu là danh nhân văn hóa tiêu biểu của Việt Nam thế kỷ XIX, một nhà thơ lớn, nhà giáo và thầy thuốc giàu lòng nhân ái. Dù bị mù từ khi còn trẻ, ông không khuất phục trước nghịch cảnh mà tiếp tục dạy học, chữa bệnh và dùng ngòi bút làm vũ khí đấu tranh chống thực dân Pháp. Qua những tác phẩm như Lục Vân Tiên và Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Nguyễn Đình Chiểu đã đề cao đạo lý, nghĩa khí, lòng yêu nước và tinh thần bất khuất của nhân dân Nam Bộ. Cuộc đời ông là tấm gương sáng về nghị lực, nhân nghĩa, lòng yêu nước và tinh thần phụng sự nhân dân, để lại giá trị sâu sắc cho các thế hệ mai sau.
Ngày 01/7/1822 (tức ngày 13 tháng 5 năm Nhâm Ngọ), Nguyễn Đình Chiểu sinh tại làng Tân Khánh, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông xuất thân trong một gia đình nhà Nho. Cha là Nguyễn Đình Huy, quê ở Thừa Thiên, từng làm Thư lại dưới quyền Tả quân Lê Văn Duyệt; mẹ là bà Trương Thị Thiệt, người Gia Định. Ngay từ nhỏ, ông nổi tiếng thông minh, hiếu học và giàu lòng nhân ái.
Năm 1833, sau biến cố Lê Văn Khôi, Nguyễn Đình Chiểu theo cha ra Huế sinh sống và tiếp tục học tập. Trong thời gian này, ông chuyên tâm đèn sách, tiếp thu nền giáo dục Nho học và nuôi chí lập thân bằng con đường khoa cử.
Năm 1843, Nguyễn Đình Chiểu đỗ Tú tài tại trường thi Gia Định. Đây là dấu mốc quan trọng, khẳng định tài năng và học vấn của ông, mở ra con đường tiếp tục học tập để dự kỳ thi Hội.
Năm 1849, khi đang trên đường ra Huế dự thi Hội, Nguyễn Đình Chiểu nhận tin mẹ qua đời. Ông lập tức trở về chịu tang. Do quá đau buồn, khóc thương mẹ và lâm bệnh nặng trong thời gian di chuyển, ông bị mù cả hai mắt. Dù mất đi ánh sáng, ông không gục ngã trước số phận mà quyết tâm học nghề y để chữa bệnh cứu người.
Từ năm 1851, Nguyễn Đình Chiểu mở trường dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho nhân dân và bắt đầu sáng tác văn chương. Trong giai đoạn này, ông hoàn thành truyện thơ Lục Vân Tiên, tác phẩm đề cao đạo lý làm người, lòng hiếu thảo, nghĩa khí và tinh thần chính nghĩa, được đông đảo nhân dân yêu mến.
Năm 1858, khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam, Nguyễn Đình Chiểu chuyển hướng sáng tác sang thơ văn yêu nước. Ông dùng ngòi bút làm vũ khí cổ vũ tinh thần kháng chiến, ca ngợi những nghĩa sĩ anh dũng và lên án mạnh mẽ quân xâm lược cùng những kẻ đầu hàng.
Năm 1861, sau trận tập kích đồn giặc ở Cần Giuộc, ông sáng tác Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc. Tác phẩm đã khắc họa hình tượng người nông dân áo vải sẵn sàng đứng lên chiến đấu vì độc lập dân tộc và được đánh giá là một trong những áng văn yêu nước xuất sắc nhất của văn học Việt Nam.
Từ năm 1862, sau khi ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ rơi vào tay thực dân Pháp, Nguyễn Đình Chiểu về Ba Tri (Bến Tre) sinh sống. Tại đây, ông tiếp tục dạy học, bốc thuốc, sáng tác thơ văn yêu nước, đồng thời giữ mối liên hệ với các nghĩa quân chống Pháp, tiêu biểu là nghĩa quân Trương Định.
Ngày 03/7/1888 (tức ngày 24 tháng 5 năm Mậu Tý), Nguyễn Đình Chiểu qua đời tại Ba Tri, tỉnh Bến Tre, hưởng thọ 66 tuổi. Sự ra đi của ông để lại niềm tiếc thương sâu sắc đối với nhân dân Nam Bộ và cả nước.
Năm 2022, nhân kỷ niệm 200 năm ngày sinh Nguyễn Đình Chiểu, UNESCO đã cùng Việt Nam vinh danh ông là Danh nhân văn hóa, ghi nhận những đóng góp to lớn của ông đối với văn học, giáo dục, y học và tư tưởng nhân văn.
Để lại cho hậu thế nhiều tác phẩm có giá trị như Lục Vân Tiên, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Ngư Tiều y thuật vấn đáp, Dương Từ – Hà Mậu cùng nhiều bài thơ văn yêu nước khác, Nguyễn Đình Chiểu không chỉ là một nhà thơ lớn mà còn là tấm gương sáng về nghị lực, lòng yêu nước và tinh thần phụng sự nhân dân. Cuộc đời và sự nghiệp của ông đã trở thành biểu tượng của khí phách dân tộc, góp phần bồi đắp truyền thống yêu nước và nhân văn của Việt Nam.



