Nguyễn Đỗ Cung – Người họa sĩ dành bốn năm dựng nên ngôi nhà chung của mỹ thuật Việt Nam
Từ một họa sĩ đi theo kháng chiến, Nguyễn Đỗ Cung trở thành người đặt nền móng cho Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Gần bốn năm khảo sát di tích, sưu tầm hiện vật và xây dựng hệ thống trưng bày của ông đã góp phần giữ lại diện mạo mỹ thuật dân tộc cho các thế hệ sau.
Một buổi sáng đầu mùa hè năm 1966, cánh cửa tòa nhà số 66 Nguyễn Thái Học mở ra. Khách tham quan bước vào một không gian kể lại lịch sử dân tộc bằng tượng đá, đồ gốm, tranh sơn mài, tranh lụa và những tác phẩm ra đời trong chiến tranh. Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam chính thức được khánh thành sau gần bốn năm chuẩn bị.
Đằng sau ngày mở cửa ấy là công sức của nhiều người. Trong số đó, họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung là người giữ vai trò đặc biệt. Ông không chỉ góp những bức tranh của mình vào nền mỹ thuật cách mạng mà còn dành những năm tháng sung sức để tìm kiếm, tập hợp và xây dựng một nơi lưu giữ di sản tạo hình của dân tộc.
Nguyễn Đỗ Cung sinh năm 1912 tại làng Xuân Tảo, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Ông học tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương và tốt nghiệp năm 1934. Được đào tạo theo phương pháp hội họa phương Tây, nhưng càng đi sâu vào nghề, ông càng quan tâm đến nghệ thuật truyền thống Việt Nam. Với ông, một pho tượng trong đình làng hay một mảng chạm trên mái chùa không chỉ là đồ vật cũ. Đó là dấu vết về cách người Việt nhìn con người, quê hương và thế giới.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã đưa người họa sĩ sang một con đường mới. Nguyễn Đỗ Cung tham gia Hội Văn hóa Cứu quốc và trở thành đại biểu Quốc hội khóa I. Năm 1946, ông là một trong những nghệ sĩ được trực tiếp vẽ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp lan rộng, ông đi vào miền Trung rồi tham gia các hoạt động văn nghệ phục vụ kháng chiến.
Tranh của ông trong những năm ấy không tìm đến cảnh vật xa hoa. Nhân vật bước vào tranh là những con người đang cầm súng, lao động và bảo vệ quê hương. “Du kích La Hai” ra đời năm 1947; “Dân quân tập bắn” được sáng tác năm 1948. Các bức tranh vừa là tác phẩm nghệ thuật, vừa giống những trang nhật ký được ghi lại ngay giữa cuộc chiến.
Năm 1949, Nguyễn Đỗ Cung ra miền Bắc, công tác tại Tiểu ban Văn nghệ Trung ương. Sau ngày hòa bình lập lại, ông tiếp tục sáng tác và nghiên cứu mỹ thuật dân tộc. Nhưng lúc ấy, Việt Nam vẫn thiếu một bảo tàng chuyên biệt có khả năng giới thiệu có hệ thống lịch sử mỹ thuật của đất nước.
Năm 1962, Nguyễn Đỗ Cung được giao nhiệm vụ xây dựng Viện Bảo tàng Mỹ thuật. Trước mặt ông không phải một tấm toan trắng mà là một công việc đồ sộ: phải xác định Việt Nam có những dòng mỹ thuật nào, hiện vật đang nằm ở đâu, lựa chọn tác phẩm nào và kể câu chuyện lịch sử ấy ra sao.
Ông cùng các họa sĩ và cán bộ trẻ đi đến nhiều địa phương, tìm vào đình, chùa và các di tích. Họ chụp ảnh, ghi chép truyền thuyết, nghiên cứu phong cách, lập hồ sơ và sưu tầm hiện vật. Những chuyến đi không đơn thuần nhằm tìm các món đồ đẹp. Muốn đưa một pho tượng hay một mảng chạm vào bảo tàng, người nghiên cứu phải xác định được niên đại, chất liệu, nguồn gốc và vị trí của nó trong tiến trình mỹ thuật Việt Nam.
Nguyễn Đỗ Cung đặc biệt chú ý đào tạo đội ngũ cán bộ. Ông đưa những người còn trẻ đi điền dã để họ học cách quan sát một ngôi đình, đọc một hoa văn và nhận ra giá trị lịch sử ẩn sau từng hiện vật. Nhiều cán bộ trưởng thành từ quá trình ấy về sau trở thành lực lượng nòng cốt của ngành bảo tàng và nghiên cứu mỹ thuật.
Tòa nhà được lựa chọn vốn là nơi ở của con em các công sứ và quan lại thời Pháp thuộc. Khi cải tạo thành bảo tàng, công trình được bổ sung những đường nét kiến trúc mang tinh thần Á Đông. Không gian bên trong được tổ chức thành năm nội dung trưng bày chính, giúp công chúng nhìn mỹ thuật Việt Nam như một dòng chảy nối tiếp qua nhiều thời kỳ.
Đầu mùa hè năm 1966, sau gần bốn năm vừa khảo sát, sưu tầm, nghiên cứu vừa xây dựng hệ thống trưng bày, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam được khánh thành. Từ đây, những tác phẩm từng nằm rải rác ở nhiều nơi đã có một mái nhà chung. Người dân có thể bước qua các phòng trưng bày để thấy lịch sử không chỉ hiện diện trong sách vở mà còn được lưu lại trên từng nét chạm, lớp sơn và dáng tượng.
Nguyễn Đỗ Cung vẫn tiếp tục cầm cọ. “Học hỏi lẫn nhau”, “Công nhân cơ khí” và “Tan ca, mời chị em đi họp để thi thợ giỏi” cho thấy sự quan tâm bền bỉ của ông đối với người lao động. Năm 1977, ông qua đời. Cũng trong năm ấy, ông được tặng Huân chương Lao động hạng Nhất. Năm 1996, Nhà nước truy tặng ông Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học, nghệ thuật đợt đầu tiên.
Có những họa sĩ để lại dấu ấn bằng những bức tranh. Nguyễn Đỗ Cung còn để lại một công trình giúp lưu giữ tranh tượng của biết bao thế hệ khác. Mỗi khi một người trẻ bước vào Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam và dừng lại trước một pho tượng cổ hay một bức tranh kháng chiến, công việc thầm lặng bắt đầu từ năm 1962 của ông lại được tiếp nối.


