Bài viết

Nguyễn Đổng Chi – 25 năm dựng một “kho tàng” từ 201 cốt truyện dân gian

Từ cuối thập niên 1950 đến năm 1982, Nguyễn Đổng Chi dành khoảng 25 năm sưu tầm, đối chiếu và biên soạn 201 cốt truyện thành bộ Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam. Sau mỗi câu chuyện quen thuộc là một hành trình khảo cứu công phu nhằm giữ lại tiếng nói, trí tưởng tượng và kinh nghiệm sống của nhiều thế hệ người Việt.

Hà Tĩnh25/08/2026Chi Đoàn trường TH&THCS Nguyễn Du (Tuy Đức)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Cuối năm 1954, Nguyễn Đổng Chi đưa gia đình từ Hà Tĩnh ra Hà Nội theo lời mời của Ban Nghiên cứu Văn Sử Địa Trung ương.

Những ngày đầu tại Thủ đô, gia đình ông chưa có một nơi ở ổn định. Họ phải tạm trú trong căn lều tranh của một người bạn công nhân ở xóm Thanh Nhàn, khu Ô Đống Mác. Nhà nghiên cứu đã có nhiều công trình được xuất bản nhưng lúc ấy gần như phải bắt đầu lại từ đầu, giữa một Hà Nội vừa được tiếp quản sau chín năm kháng chiến.

Tại Ban Nghiên cứu Văn Sử Địa, Nguyễn Đổng Chi bước vào công việc sẽ theo ông gần hết phần đời còn lại: dựng nên một bộ sách có khả năng lưu giữ tương đối hệ thống truyện cổ tích của người Việt.

Công việc ấy không bắt đầu từ một thư viện đầy đủ. Truyện cổ tích vốn tồn tại chủ yếu trong trí nhớ và lời kể. Một cốt truyện đi qua nhiều làng có thể đổi tên nhân vật, thay địa điểm, thêm một chi tiết hoặc mất hẳn một đoạn. Cùng một câu chuyện, người kể ở Nghệ Tĩnh có thể nhớ khác người kể ở đồng bằng Bắc Bộ. Những văn bản đã được chép trong sách Hán Nôm cũng không hoàn toàn giống phiên bản đang lưu truyền trong dân gian.

Nếu chỉ chọn một bản kể hấp dẫn rồi viết lại, người biên soạn có thể làm mất dấu những lớp biến đổi ấy. Nguyễn Đổng Chi chọn con đường khó hơn: thu thập nhiều nguồn, nhận diện cốt truyện, so sánh các dị bản và tìm dấu vết của câu chuyện trong thư tịch cổ cũng như kho truyện của các dân tộc khác.

Phương pháp này đã được hình thành từ rất sớm trong cuộc đời ông.

Nguyễn Đổng Chi sinh ngày 6 tháng 1 năm 1915 tại Phan Thiết, nhưng quê gốc ở làng Đông Thượng, xã Ích Hậu, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Trong gia đình ông có Mộng Thương thư trai, một thư viện tư nhân lớn của vùng Nghệ Tĩnh. Những tủ sách ấy giúp chàng trai Nguyễn Đổng Chi làm quen với sử sách, văn chương và vốn cổ dân tộc từ khi còn trẻ.

Năm 1933, khi mới 18 tuổi, ông đến Kon Tum sống cùng người anh là bác sĩ Nguyễn Kinh Chi. Hai anh em lưu lại vùng đất này khoảng mười tháng, từ cuối tháng 7 năm 1933 đến cuối tháng 5 năm 1934. Họ quan sát cách tổ chức làng, nhà ở, sản xuất, tín ngưỡng, lễ nghi và đời sống gia đình của người Ba Na.

Những ghi chép đó trở thành cuốn Mọi Kontum, xuất bản năm 1937 và sau này được in lại với tên Người Ba-na ở Kon Tum. Cổng thông tin tỉnh Kon Tum giới thiệu đây là công trình dân tộc học đầu tiên do người Việt viết bằng tiếng Việt. Chuyến đi ấy cũng cho thấy một đặc điểm sẽ theo Nguyễn Đổng Chi suốt đời: muốn hiểu văn hóa, nhà nghiên cứu phải đến nơi con người đang sống và lắng nghe chính họ kể về mình.

Cũng trong năm 1937, dưới bút danh Nguyễn Trần Ai, ông xuất bản phóng sự Túp lều nát, phản ánh đời sống nông thôn dưới sự áp chế của tầng lớp cường hào. Sau đó, ông nghiên cứu hát giặm Nghệ Tĩnh và lịch sử văn học cổ. Cuốn Việt Nam cổ văn học sử, ra đời đầu thập niên 1940, là một nỗ lực sớm nhằm dựng lại diện mạo văn học viết của người Việt trước thế kỷ X.

Năm 1943, Nguyễn Đổng Chi tham gia phong trào Việt Minh. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông làm công tác văn hóa tại Vinh và phụ trách Hội Văn hóa Cứu quốc Nghệ An. Trong kháng chiến chống Pháp, ông tiếp tục viết, giảng dạy và hoạt động tại Liên khu IV.

Khi trở lại Hà Nội cuối năm 1954, hành trang quan trọng nhất của Nguyễn Đổng Chi không phải là điều kiện vật chất, mà là kinh nghiệm điền dã, vốn Hán Nôm và thói quen theo đuổi đến cùng một nguồn tư liệu.

Những tập đầu của Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam bắt đầu được công bố từ cuối thập niên 1950. Tập cuối hoàn thành năm 1982. Toàn bộ công trình gồm năm tập, được biên soạn và xuất bản trong khoảng 25 năm, quy tụ 201 cốt truyện.

Tên sách là Kho tàng, nhưng tác giả không chỉ xếp nối tiếp các câu chuyện để người đọc giải trí. Công trình gồm ba bộ phận gắn bó với nhau.

Phần đầu nghiên cứu bản chất, nguồn gốc, quá trình phát triển và cách phân loại truyện cổ tích Việt Nam. Phần trung tâm là các truyện được Nguyễn Đổng Chi lựa chọn, chỉnh lý và kể lại bằng một giọng văn trong sáng, dễ đọc. Sau mỗi truyện thường có phần khảo dị, ghi nhận những phiên bản khác và so sánh với các cốt truyện tương đồng trong nước hoặc trên thế giới. Phần cuối tổng kết đặc điểm tư tưởng và nghệ thuật của truyện cổ Việt Nam.

Nhờ đó, người đọc không chỉ biết câu chuyện đã xảy ra thế nào, mà còn có thể thấy nó đã đi qua những con đường nào trước khi đến trang sách.

Trong Sự tích trầu cau, Tấm Cám, Cây tre trăm đốt, Thạch Sanh hay Sự tích Hồ Gươm, điều Nguyễn Đổng Chi muốn giữ lại không chỉ là chuỗi sự kiện. Đó còn là cách người xưa giải thích phong tục, lên án bất công, bênh vực người yếu thế và gửi gắm niềm tin rằng cái thiện cuối cùng phải được nhìn nhận.

Ông không xem truyện dân gian là những văn bản bất động. Một câu chuyện tồn tại bằng việc được kể lại; mỗi cộng đồng có thể để lại trên nó một dấu ấn. Vì thế, người sưu tầm không nên vội vàng gạt bỏ những chi tiết bị cho là thô ráp, chưa hoàn chỉnh hoặc khác với bản quen thuộc. Chính các khác biệt ấy giúp nhà nghiên cứu nhận ra môi trường mà câu chuyện đã sống.

Trong thời gian thực hiện bộ sách, Nguyễn Đổng Chi vẫn đảm nhiệm nhiều công việc khác. Ông làm việc tại Ban Nghiên cứu Văn Sử Địa, Viện Sử học và Ban Hán Nôm. Ông tham gia hiệu đính, dịch thuật nhiều tư liệu cổ, xây dựng hệ thống thư mục sử học và từng giữ chức Quyền Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Năm 1960, trong một chuyến khảo sát, ông còn tham gia phát hiện di chỉ đồ đá cũ Núi Đọ tại Thanh Hóa.

Năm 1982, tập cuối của Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam được công bố. Hai năm sau, ngày 20 tháng 7 năm 1984, Nguyễn Đổng Chi qua đời.

Ông đã kịp nhìn thấy công trình kéo dài một phần tư thế kỷ của mình hoàn thành, nhưng không còn sống đến ngày được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 1996. Viện Nghiên cứu Văn hóa ghi nhận ông là một trong những nhà khoa học tiêu biểu của viện, có đóng góp trên cả bốn lĩnh vực: văn học, văn hóa dân gian, sử học và Hán Nôm.

Ngày nay, nhiều truyện trong bộ sách vẫn được kể lại cho trẻ em, đưa vào tuyển tập, sân khấu, phim hoạt hình và tài liệu giảng dạy. Không phải người đọc nào cũng biết phía sau những trang văn tưởng như giản dị ấy là hàng nghìn lần đối chiếu, lựa chọn và khảo dị.

Nguyễn Đổng Chi không sáng tạo ra Tấm, Thạch Sanh hay cây tre trăm đốt. Công việc của ông thầm lặng hơn: đi theo dấu chân của những câu chuyện, nhặt lại các phiên bản đang tản mát và trao cho chúng một nơi cư trú lâu dài trên trang giấy.

Một dân tộc có thể lưu giữ lịch sử bằng bia đá và biên niên sử. Nhưng trong những thời kỳ mà người bình dân ít có cơ hội để lại tên mình, ký ức của họ thường trú ngụ trong câu hát, tục ngữ và truyện kể. Bằng 25 năm bền bỉ, Nguyễn Đổng Chi đã giúp những tiếng nói vô danh ấy không biến mất.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn