Nguyễn Đổng Chi – hai mươi lăm năm gom những lời kể thành kho tàng cổ tích Việt Nam
Từ một khối tư liệu gần 2.000 truyện dân gian, Nguyễn Đổng Chi đã tuyển chọn, kể lại và khảo dị 201 truyện tiêu biểu. Bộ sách năm tập được hoàn thành trong 25 năm không chỉ giữ lại những câu chuyện quen thuộc mà còn chỉ ra diện mạo, tâm hồn và cách nghĩ của người Việt được gửi vào cổ tích.
Năm 1982, tập cuối của bộ Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam được xuất bản.
Trên giá sách lúc ấy là năm tập sách dày, gồm 201 truyện chính cùng một khối lượng lớn dị bản, chú thích và tư liệu so sánh. Nhưng phía sau những trang sách không phải công việc của vài tháng hay vài năm.
Nguyễn Đổng Chi đã dành khoảng 25 năm để hoàn thành bộ sách.
Trong từng ấy thời gian, đất nước trải qua chiến tranh, chia cắt rồi thống nhất. Nơi làm việc thay đổi, điều kiện in ấn thiếu thốn và nhiều công việc nghiên cứu khác liên tục đặt lên vai ông. Có những tập sách cách nhau đến 15 năm mới được xuất bản.
Dẫu vậy, Nguyễn Đổng Chi không để công trình dừng lại giữa chừng. Ông hiểu rằng nếu thế hệ mình không kịp ghi chép, nhiều câu chuyện từng được truyền từ đời này sang đời khác có thể biến mất cùng những người kể cuối cùng.
Nguyễn Đổng Chi sinh ngày 6/1/1915 tại Phan Thiết, quê gốc ở làng Ích Hậu, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Cha ông là nhà giáo Nguyễn Hiệt Chi, một trong những người góp phần sáng lập Trường Dục Thanh – ngôi trường từng gắn với thời gian dạy học của người thanh niên Nguyễn Tất Thành trước khi ra đi tìm đường cứu nước.
Lớn lên trong một gia đình coi trọng tri thức và văn hóa dân tộc, Nguyễn Đổng Chi sớm hình thành thói quen đọc, ghi chép và quan sát đời sống.
Nhưng ông không chỉ tìm hiểu văn hóa qua sách.
Khi còn rất trẻ, Nguyễn Đổng Chi cùng người anh là bác sĩ Nguyễn Kinh Chi đến vùng Kon Tum. Hai anh em tìm hiểu đời sống của người Ba Na từ nhà cửa, sản xuất, ăn uống, trang phục đến hôn nhân, tang ma, tín ngưỡng và tổ chức cộng đồng.
Kết quả được công bố năm 1937 trong công trình mang tên Mọi Kon Tum – một nhan đề sử dụng cách gọi phổ biến nhưng nay không còn phù hợp của thời kỳ ấy. Tác phẩm sau này được xuất bản với tên Người Ba Na ở Kon Tum.
Điều đáng chú ý là Nguyễn Đổng Chi không nhìn cộng đồng bản địa như những con người xa lạ, thấp kém. Ông cố gắng ghi lại đời sống của họ trong tính toàn vẹn, từ tri thức sản xuất đến phong tục và thế giới tinh thần. Cách tiếp cận ấy cho thấy từ rất sớm, ông đã hiểu rằng mỗi cộng đồng đều có một kho tri thức cần được tôn trọng.
Sau đó, Nguyễn Đổng Chi tiếp tục nghiên cứu hát dặm Nghệ Tĩnh, văn học cổ, lịch sử phong trào nông dân, thư tịch Hán Nôm và văn hóa dân gian. Nhưng công trình gắn bó lâu dài nhất với tên tuổi ông vẫn là Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam.
Khi bắt đầu biên soạn, Nguyễn Đổng Chi đứng trước một khó khăn lớn: truyện cổ tích không có một văn bản duy nhất.
Cùng một câu chuyện, người dân ở mỗi vùng có thể kể theo một cách khác. Tên nhân vật thay đổi; địa điểm thay đổi; một chi tiết xuất hiện trong bản kể ở miền Bắc nhưng không có ở miền Trung. Có câu chuyện Việt Nam lại mang những mô-típ gần với truyện của Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản hoặc châu Âu.
Nếu chỉ chép lại một bản kể, người nghiên cứu có thể bỏ qua lịch sử lưu truyền phong phú của câu chuyện. Nhưng nếu gom tất cả các dị bản vào cùng một văn bản, truyện sẽ trở nên rối rắm và mất đi vẻ tự nhiên.
Nguyễn Đổng Chi phải đồng thời làm ba công việc: sưu tầm, khảo cứu và kể chuyện.
Trước hết, ông tập hợp một khối tư liệu được cho là gần 2.000 truyện từ nhiều nguồn khác nhau. Có truyện do người dân kể lại; có truyện nằm trong sách cũ, thần tích, địa chí hoặc các công trình sưu tầm đã xuất bản; cũng có những truyện chỉ còn tồn tại dưới dạng những mẩu kể chưa hoàn chỉnh.
Từ khối tư liệu ấy, ông lựa chọn 201 truyện tiêu biểu để đưa vào bộ sách.
Nhưng lựa chọn mới chỉ là bước đầu. Với mỗi truyện, Nguyễn Đổng Chi còn tìm các bản kể khác nhau, đối chiếu chi tiết rồi viết phần “khảo dị”. Ông đặt truyện Việt Nam bên cạnh hàng trăm truyện dân gian Đông – Tây có cấu trúc hoặc mô-típ tương đồng.
Công việc ấy giúp người đọc nhận ra một điều thú vị: truyện cổ tích của các dân tộc có thể gặp nhau ở ước mơ về công lý, tình yêu và hạnh phúc, nhưng mỗi dân tộc lại kể câu chuyện bằng những hình ảnh sinh ra từ đời sống riêng của mình.
Ở Việt Nam, đó là cây tre, quả thị, miếng trầu, chiếc khố, ruộng lúa, dòng sông, ông Bụt và những con người bình thường phải đối mặt với bất công.
Nguyễn Đổng Chi không biến bộ sách thành một kho tư liệu khô cứng. Ông kể lại các truyện bằng một giọng văn giản dị, có nhịp điệu, giữ được nét hồn nhiên và dí dỏm của lời kể dân gian. Vì thế, bộ sách vừa có giá trị nghiên cứu vừa có thể được trẻ em và người lớn đọc như một tác phẩm văn học.
Các truyện được sắp xếp theo hệ thống chứ không đặt cạnh nhau một cách ngẫu nhiên. Từ chuyện giải thích nguồn gốc sự vật, sự tích đất nước, nhân vật tài giỏi đến truyện về người nghèo, kẻ tham lam, người phụ nữ bất hạnh hoặc những con vật biết nói, người đọc dần nhìn thấy diện mạo của thế giới cổ tích Việt Nam.
Nguyễn Đổng Chi phân truyện cổ tích thành ba nhóm lớn: cổ tích thần kỳ, cổ tích thế sự và cổ tích lịch sử. Cách phân loại này về sau được sử dụng trong nhiều giáo trình và công trình nghiên cứu văn học dân gian.
Ông còn nhận ra rằng truyện cổ tích Việt Nam không chỉ đưa con người vào thế giới phép màu. Nhiều truyện mang tính phê phán hiện thực rất rõ: phê phán kẻ tham lam, quan lại bất công, người anh hoặc người chị độc ác, những thế lực dùng tiền bạc và địa vị để chèn ép người yếu thế.
Đáng chú ý, một mảng truyện lớn đề cao vai trò của nhân vật nữ. Trong thế giới ấy, người phụ nữ không phải lúc nào cũng thụ động chờ được giải cứu. Họ có thể là người thông minh, chủ động vượt qua thử thách, bảo vệ tình yêu hoặc làm thay đổi số phận của mình.
Hai tập đầu tiên của Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam xuất hiện vào cuối thập niên 1950. Tập thứ ba ra mắt năm 1960. Những tập đầu nhanh chóng được bạn đọc trong và ngoài nước chú ý; một số nhà nghiên cứu quốc tế đã viết bài giới thiệu, đánh giá.
Nhưng con đường đến tập thứ tư và thứ năm kéo dài rất lâu.
Trong khoảng thời gian ấy, Nguyễn Đổng Chi còn đảm nhiệm nhiều công việc khác. Ông nghiên cứu văn học, lịch sử; tham gia xây dựng các công trình địa chí; công tác tại Ban Hán Nôm rồi giữ quyền Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
Dù vậy, bộ truyện cổ tích vẫn được ông tiếp tục bổ sung. Tập thứ tư xuất bản năm 1975. Đến năm 1982, tập thứ năm ra đời, khép lại công trình kéo dài một phần tư thế kỷ.
Hai năm sau, ngày 20/7/1984, Nguyễn Đổng Chi qua đời.
Sau khi ông mất, những công trình đặc biệt xuất sắc về văn hóa dân gian, trong đó có Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam và Địa chí văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh, được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt đầu năm 1996.
Đến nay, bộ sách đã được tái bản nhiều lần. Năm tập sách không chỉ đưa những truyện xưa đến với bạn đọc mới mà còn trở thành nguồn tư liệu quan trọng đối với giới nghiên cứu văn hóa và văn học dân gian.
Ý nghĩa lớn nhất trong công việc của Nguyễn Đổng Chi nằm ở chỗ ông không xem truyện cổ tích là những câu chuyện hoang đường dành riêng cho trẻ nhỏ.
Trong mỗi truyện, ông tìm thấy dấu vết của lịch sử, phong tục, quan hệ gia đình, cách ứng xử và ước mơ công lý của người bình dân. Những điều không được ghi vào chính sử đôi khi lại sống rất lâu trong câu chuyện về một chàng trai nghèo, một cô gái mồ côi hay một con vật biết nói.
Nhờ 25 năm bền bỉ của Nguyễn Đổng Chi, lời kể từng vang lên bên bếp lửa, dưới mái nhà tranh hay trong những đêm nghỉ giữa mùa vụ đã bước vào sách.
Người kể chuyện có thể đã khuất. Ngôi làng có thể đã đổi thay. Nhưng câu chuyện vẫn còn đó, mang theo tiếng nói, trí tưởng tượng và tâm hồn của biết bao thế hệ người Việt.



