Cựu chiến binh

NGUYỄN ĐỨC LÃNG: NGƯỜI MAY LÁ CỜ MANG NỖI NHỚ THỐNG NHẤT BÊN BỜ HIỀN LƯƠNG

Giữa những năm tháng đất nước bị chia cắt, bên dòng Bến Hải lịch sử, có một người lính lặng lẽ làm nhiệm vụ đặc biệt: may và vá những lá cờ đỏ sao vàng để lá quốc kỳ luôn tung bay trên kỳ đài Hiền Lương. Không trực tiếp chiến đấu nơi trận địa, nhưng từng đường kim, mũi chỉ của ông Nguyễn Đức Lãng đã góp phần gìn giữ một biểu tượng thiêng liêng của Tổ quốc, gửi niềm tin và khát vọng đoàn tụ tới đồng bào bên kia giới tuyến.

Quảng Trị28/10/2026Lê Thị Minh (phường Tây Tựu)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

NGUYỄN ĐỨC LÃNG: NGƯỜI MAY LÁ CỜ MANG NỖI NHỚ THỐNG NHẤT BÊN BỜ HIỀN LƯƠNG

Giữa những năm tháng đất nước bị chia cắt, bên dòng Bến Hải lịch sử, có một người lính lặng lẽ làm nhiệm vụ đặc biệt: may và vá những lá cờ đỏ sao vàng để lá quốc kỳ luôn tung bay trên kỳ đài Hiền Lương. Không trực tiếp chiến đấu nơi trận địa, nhưng từng đường kim, mũi chỉ của ông Nguyễn Đức Lãng đã góp phần gìn giữ một biểu tượng thiêng liêng của Tổ quốc, gửi niềm tin và khát vọng đoàn tụ tới đồng bào bên kia giới tuyến.

Meeting the man who holds the national flag with unwavering faith.

Ông Nguyễn Đức Lãng bên lá cờ do chính tay ông may trong thời bình. Ảnh: Thanh Thủy – TTXVN.

Dòng sông chia đôi và lá cờ của niềm tin

Tháng 7 năm 1954, Hiệp định Genève về Đông Dương được ký kết, đánh dấu bước ngoặt quan trọng sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Theo các thỏa thuận đình chiến, khu vực sông Bến Hải, gần vĩ tuyến 17, trở thành giới tuyến quân sự tạm thời, với cầu Hiền Lương là một trong những địa điểm tiêu biểu của sự phân chia hai vùng tập kết.

Giới tuyến ấy không phải là biên giới chính trị hay lãnh thổ lâu dài. Hiệp định và Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève hướng tới mục tiêu thống nhất Việt Nam thông qua tổng tuyển cử vào tháng 7 năm 1956. Nhưng cuộc tổng tuyển cử đã không diễn ra như dự kiến. Đất nước tiếp tục trải qua những năm tháng chia cắt và chiến tranh khốc liệt.

Từ một cây cầu bình dị bắc qua dòng Bến Hải, Hiền Lương trở thành địa danh mang nặng nỗi đau chia lìa. Có những gia đình sống cách nhau chỉ một dòng sông mà nhiều năm không thể sum họp. Có những người con rời quê hương khi tuổi đời còn trẻ, mang theo lời hẹn ngày trở về khi đất nước thống nhất.

Giữa hoàn cảnh ấy, lá cờ đỏ sao vàng trên bờ Bắc Hiền Lương mang ý nghĩa vượt xa một biểu tượng hành chính. Đối với những người dân phía Nam giới tuyến, màu cờ hiện lên giữa trời như lời nhắn gửi rằng non sông vẫn chung một cội nguồn, và niềm tin vào ngày đoàn tụ chưa bao giờ tắt.

Để giữ cho lá cờ ấy luôn tung bay, biết bao cán bộ, chiến sĩ và nhân dân Vĩnh Linh đã kiên cường bám trụ. Trong số đó có một người lính mang tên Nguyễn Đức Lãng.

Từ người thợ may đến nhiệm vụ đặc biệt nơi giới tuyến

Nguyễn Đức Lãng quê ở Cam Lộ, Quảng Trị. Tuổi trẻ của ông gắn với những biến động lớn của quê hương khi đất nước tạm thời bị chia cắt.

Theo những lời kể được ghi lại trong các cuộc phỏng vấn nhân chứng, khi còn là thanh niên, ông vượt tuyến ra miền Bắc, làm công nhân tại Hợp tác xã may Nam Hồng ở thị trấn Hồ Xá, Vĩnh Linh. Chính nghề may học được trong những năm tháng ấy đã đưa ông đến với một nhiệm vụ mà trước đó ít ai nghĩ rằng sẽ trở thành một phần đặc biệt của lịch sử giới tuyến.

Năm 1959, ông được điều về công tác tại Ban Hậu cần của lực lượng Công an nhân dân vũ trang Vĩnh Linh, tiền thân của lực lượng Bộ đội Biên phòng ngày nay.

Trong những nhiệm vụ được giao, có công việc bảo đảm cờ Tổ quốc cho kỳ đài Hiền Lương và các vị trí dọc tuyến giới tuyến.

Ban đầu, những lá cờ lớn được tiếp nhận từ các đơn vị phía Bắc rồi vận chuyển về Vĩnh Linh. Để hoàn thành nhiệm vụ, ông Lãng phải đi qua những tuyến đường xa xôi, trong điều kiện giao thông khó khăn, chiến tranh ngày càng ác liệt.

Nhưng việc vận chuyển cờ từ xa không phải lúc nào cũng đáp ứng được yêu cầu cấp bách. Gió lớn thường xuyên làm những lá cờ bị sờn rách. Những đợt đánh phá của không quân và pháo binh càng khiến việc bảo đảm quốc kỳ trở nên gian nan.

Chỉ cần lá cờ trên kỳ đài bị rách, nhiệm vụ thay thế phải được thực hiện nhanh chóng. Không thể để biểu tượng Tổ quốc vắng bóng trên bầu trời giới tuyến.

Từ yêu cầu thực tế ấy, ông Nguyễn Đức Lãng chuyển dần sang trực tiếp may và sửa chữa cờ ngay tại Vĩnh Linh.

Đó là công việc đặc biệt của một người lính hậu cần: không cầm súng nơi tuyến đầu nhưng góp phần bảo vệ màu cờ giữa chiến tranh.

Những đường kim giữ màu cờ giữa bom đạn

May một lá cờ Tổ quốc có kích thước lớn không giống với may một lá cờ thông thường.

Theo hồi ức của ông Nguyễn Đức Lãng được báo chí ghi lại, những lá cờ sử dụng tại kỳ đài Hiền Lương có diện tích rất lớn, có loại khoảng 96 m². Để hoàn thành một lá cờ như vậy, người thợ phải sử dụng một lượng vải đỏ và vải vàng đáng kể, ghép nối nhiều khổ vải với nhau.

Từng đường may phải thẳng, chắc, đều và có khả năng chịu đựng sức gió mạnh. Những mép cờ thường phải được gia cố bằng nhiều đường chỉ nhằm hạn chế tình trạng bung, rách khi lá cờ tung bay trên cao.

Đặc biệt, ngôi sao vàng năm cánh phải được cắt và đặt chính xác ở giữa nền đỏ, bảo đảm hình dáng cân đối.

Theo lời kể của ông, thời gian đầu, việc hoàn thành một lá cờ có thể kéo dài tới một tuần. Khi đã quen công việc, ông rút ngắn đáng kể thời gian nhưng vẫn phải bảo đảm chất lượng từng đường kim, mũi chỉ.

Ở vùng đất Quảng Trị, thời tiết cũng là một thử thách nghiệt ngã. Những đợt gió Lào bỏng rát, những trận mưa lớn và gió mùa có thể khiến vải nhanh bạc màu, sờn rách.

Đặc biệt, từ năm 1965, khi chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ leo thang ở miền Bắc, Vĩnh Linh trở thành một trong những địa bàn thường xuyên hứng chịu bom đạn.

Công việc may cờ phải thích ứng với hoàn cảnh chiến tranh. Có lúc người thợ phải đưa vải và máy may xuống hầm trú ẩn, làm việc trong không gian chật hẹp, thiếu ánh sáng.

Trong điều kiện ấy, việc trải những tấm vải lớn, ghép từng mảnh rồi may thành một lá cờ hoàn chỉnh đòi hỏi sự kiên nhẫn và trách nhiệm đặc biệt.

Những đường kim không chỉ nối các tấm vải với nhau. Chúng còn gắn liền với quyết tâm của những người đang sống và chiến đấu nơi đầu sóng ngọn gió của cuộc đấu tranh thống nhất đất nước.

Bởi sau mỗi lá cờ hoàn thành là một nhiệm vụ khẩn trương khác: đưa cờ đến kỳ đài, thay lá cờ đã hư hỏng, để màu đỏ sao vàng tiếp tục hiện diện trên bầu trời Bến Hải.

Cuộc đấu cờ không tiếng súng bên cầu Hiền Lương

Nhớ những người mẹ vá cờ Tổ quốc bên cầu Hiền Lương

Hình ảnh tư liệu cột cờ Hiền Lương trong những năm đất nước còn chia cắt. Nguồn ảnh: Tư liệu lịch sử, đăng trên Báo Dân trí.

Trong suốt những năm đất nước bị chia cắt, cầu Hiền Lương không chỉ chứng kiến cuộc đấu tranh chính trị, đấu loa phát thanh hay những tranh chấp biểu tượng trên cây cầu hai màu sơn. Nơi đây còn diễn ra cuộc “đấu cờ” nổi tiếng giữa hai bờ giới tuyến.

Hai phía nhiều lần dựng và nâng cao cột cờ nhằm thể hiện sự hiện diện và sức mạnh biểu tượng của mình.

Trên bờ Bắc, cán bộ, chiến sĩ và nhân dân đã vượt qua nhiều khó khăn để dựng những cột cờ ngày càng cao. Cột cờ bằng thép cao khoảng 38,6 mét, được dựng trong thời kỳ ấy, trở thành hình ảnh tiêu biểu của cuộc đấu tranh giữ lá quốc kỳ trên vĩ tuyến 17.

Lá cờ lớn tung bay trên đỉnh cột không chỉ để những người ở gần quan sát. Từ nhiều vị trí phía Nam sông Bến Hải, người dân vẫn có thể nhìn thấy màu đỏ sao vàng giữa khoảng trời rộng.

Đối với ông Nguyễn Đức Lãng, giữ lá cờ ấy hiện diện liên tục là nhiệm vụ không được phép lơ là.

Có những thời điểm, lá cờ vừa treo lên đã bị gió mạnh làm hư hỏng. Có những ngày việc vận chuyển nguyên liệu bị gián đoạn vì bom đạn. Khi không kịp may cờ mới, những lá cờ cũ còn sử dụng được lại được vá, gia cố để tiếp tục phục vụ nhiệm vụ.

Theo nhiều bài phỏng vấn nhân chứng, trong những năm cao điểm, lực lượng làm nhiệm vụ phải chuẩn bị và thay thế hàng chục lá cờ mỗi năm.

Công việc tưởng chừng bình lặng ấy thực chất nằm trong một cuộc đấu tranh bền bỉ về ý chí. Giữ cho lá cờ luôn hiện diện cũng chính là giữ vững niềm tin của đồng bào đôi bờ vào ngày đất nước thống nhất.

Và phía sau hình ảnh lá cờ tung bay trên kỳ đài là biết bao bàn tay âm thầm: người chuẩn bị vải, người may cờ, người vận chuyển, người kéo cờ và những chiến sĩ trực tiếp bảo vệ kỳ đài giữa bom đạn.

Nguyễn Đức Lãng là một trong những con người đã góp phần làm nên câu chuyện ấy.

Ngày non sông nối liền và niềm vui của người lính may cờ

Sau Hiệp định Paris năm 1973, cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam tiếp tục bước vào giai đoạn quyết định. Mùa Xuân năm 1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, mở ra một trang sử mới của dân tộc.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, miền Nam được giải phóng, đất nước tiến tới thống nhất.

Đối với những người từng sống và chiến đấu bên dòng Bến Hải, đó là ngày hoàn thành một ước nguyện đã được gìn giữ qua bao năm tháng đau thương.

Với Nguyễn Đức Lãng, ý nghĩa của ngày thống nhất càng đặc biệt. Những lá cờ mà ông từng cắt, ghép, may và vá giữa chiến tranh đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình: góp phần nuôi dưỡng niềm tin vào một ngày hai miền sum họp.

Sau chiến tranh, ông tiếp tục công tác trong lực lượng vũ trang trước khi trở về cuộc sống đời thường.

Điều đáng trân trọng là tình cảm của người lính ấy dành cho lá cờ Tổ quốc vẫn không thay đổi. Theo những cuộc phỏng vấn được thực hiện nhiều năm sau ngày hòa bình, ông vẫn giữ thói quen tự tay may cờ vào những dịp trọng đại như Quốc khánh, ngày 30 tháng 4 và Tết cổ truyền.

Chiếc máy may không còn phải hoạt động trong tiếng bom rơi. Những tấm vải đỏ không còn phải trải dưới hầm trú ẩn. Nhưng trong từng đường kim, mũi chỉ, ký ức của một thời giữ cờ bên bờ giới tuyến vẫn còn nguyên vẹn.

Với những đóng góp trong kháng chiến, ông Nguyễn Đức Lãng đã được trao tặng nhiều phần thưởng, trong đó có Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất cùng các huân chương ghi nhận quá trình phục vụ, chiến đấu.

Dẫu vậy, khi nhắc về công việc năm xưa, ông vẫn xem may và vá cờ là trách nhiệm bình thường của một người chiến sĩ đối với Tổ quốc.

Từ lá cờ năm xưa đến ký ức hôm nay

50 năm nối đôi bờ Bến Hải: Nghe Hiền Lương kể chuyện | Báo Nhân Dân điện tử

Di tích lịch sử đôi bờ Hiền Lương – Bến Hải, nơi lưu giữ ký ức về những năm tháng đất nước chia cắt và khát vọng thống nhất non sông. Ảnh minh họa hiện trạng di tích.

Hôm nay, đến thăm di tích quốc gia đặc biệt Đôi bờ Hiền Lương – Bến Hải, du khách có thể đứng trên cây cầu lịch sử, nhìn dòng sông lặng lẽ trôi và ngước lên lá cờ đỏ sao vàng đang tung bay trong hòa bình.

Ít ai hình dung rằng, để giữ màu cờ ấy trong những năm tháng khốc liệt, đã có biết bao người lặng lẽ góp sức, thậm chí đánh đổi cả tính mạng.

Câu chuyện của Nguyễn Đức Lãng nhắc chúng ta rằng lịch sử không chỉ được viết nên từ những trận đánh lớn, những chiến công vang dội hay những thời khắc quyết định. Lịch sử còn được tạo thành từ sự tận tụy của những con người bình dị, thực hiện công việc của mình bằng tất cả lòng yêu nước và niềm tin vào tương lai dân tộc.

Người lính may cờ bên bờ Hiền Lương không tìm kiếm vinh quang cho riêng mình. Điều ông và đồng đội kiên trì gìn giữ là hình ảnh lá quốc kỳ luôn hiện diện nơi từng là giới tuyến chia cắt hai miền.

Nửa thế kỷ sau ngày thống nhất, lá cờ vẫn tung bay trên bầu trời Quảng Trị. Nhưng giờ đây, dưới màu cờ ấy không còn hai bờ chia cắt, chỉ còn một đất nước hòa bình, độc lập và thống nhất.

Và trong ký ức về Hiền Lương, Bến Hải, những đường kim của Nguyễn Đức Lãng vẫn mãi là một phần câu chuyện cảm động về những con người đã dành tuổi trẻ của mình để gìn giữ niềm tin vào ngày non sông liền một dải.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn