Nguyễn Đức Thành
Trong những năm tháng cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn cam go và khốc liệt nhất, chàng thanh niên Nguyễn Đức Thành (sinh năm 1941) đã nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, lên đường nhập ngũ vào năm 1963 khi vừa tròn 22 tuổi. Mang theo nhiệt huyết trào dâng của tuổi trẻ và một lòng nồng nàn yêu nước, ông bước vào đời lính với ý chí sắt đá, sẵn sàng gác lại thanh xuân để dấn thân vào những tọa độ lửa ác liệt nhất của chiến trường miền Nam.
Suốt 12 năm dài đằng đẵng đứng trong hàng ngũ quân đội (1963 – 1975), cựu chiến binh Nguyễn Đức Thành đã trải qua một hành trình binh nghiệp đầy gian khổ nhưng cũng vô cùng vinh quang. Ông đã đi qua những năm tháng khốc liệt của dải đất miền Trung, nếm trải cái nắng cháy da của vùng đất lửa Quảng Trị và những đêm dài xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước. Ký ức sâu đậm và đáng nhớ nhất trong cuộc đời binh nghiệp của ông diễn ra vào chiến dịch mùa khô năm 1972, trong một nhiệm vụ bảo vệ mạch máu giao thông chiến lược tại một cao điểm trọng yếu.
Khi ấy, đơn vị của ông Nguyễn Đức Thành được giao nhiệm vụ chốt giữ một vị trí hiểm trở, nơi có con đường độc đạo dùng để vận chuyển lương thực, vũ khí và chuyển thương binh từ tiền tuyến về tuyến sau. Phát hiện ra tọa độ này, quân địch liên tục dội pháo bầy và tung các đợt máy bay oanh tạc suốt ngày đêm hòng san phẳng các tuyến phòng thủ của ta. Khói bom nổ ra khét lẹt, đất đá bị cày xới mịt mù, hầm hào liên tục bị chấn động mạnh.
Vào một đêm sương mù dày đặc, một loạt đạn pháo kích dữ dội của đối phương dội trúng ngay trận địa, làm sập một góc hầm chỉ huy chính, đồng chí tiểu đội trưởng bị thương nặng và liên lạc với đại đội phía sau tạm thời bị gián đoạn. Đúng lúc đó, một toán bộ binh địch cậy lợi thế quân đông đang lầm lũi bám dọc bờ hào, áp sát chốt hòng đánh chiếm cao điểm.
Giữa lằn ranh sinh tử, trước sức ép dồn dập của tiếng bom đạn, ông Nguyễn Đức Thành không một chút nao núng. Bản lĩnh của người chiến sĩ giải phóng quân dày dặn trận mạc đã thôi thúc ông gượng dậy. Ông nhanh chóng kéo người tiểu đội trưởng vào vị trí an toàn, tự xé vạt áo băng chặt vết thương cho đồng đội rồi dũng cảm đứng ra gánh vác trách nhiệm chỉ huy trận địa, dõng dạc động viên tinh thần những anh em còn lại bám trụ công sự đến cùng. Ông mưu trí hướng dẫn đồng đội thu gom từng băng đạn, quả lựu đạn còn sót lại, tận dụng địa hình địa vật để đánh trả.
Bản thân ông Thành lúc đó cũng bị một mảnh pháo sượt qua bắp tay, máu ra nhiều thấm đỏ một bên áo quân phục, nhưng ông nén đau đớn, cắn răng chịu đựng để tiếp tục bám chốt. Một mình ông ôm súng, mưu trí di chuyển liên tục qua các hốc đá và hố bom còn nghi ngút khói, vừa bắn trả quyết liệt từng loạt đạn chính xác vừa ném lựu đạn nghi binh từ nhiều hướng. Sự gan dạ, điềm tĩnh và cách đánh linh hoạt của ông đã truyền ngọn lửa chiến đấu mạnh mẽ cho các đồng đội, khiến kẻ địch hoang mang tưởng rằng lực lượng của ta tại chốt vẫn còn rất đông nên không dám ồ ạt tiến vào. Tiểu đội của ông đã kiên cường đánh bật các đợt phản kích dữ dội của địch, giữ vững cao điểm chốt chặn suốt nhiều giờ liền cho đến khi lực lượng tiếp viện của ta kịp thời đến chi viện và bẻ gãy hoàn toàn vòng vây của kẻ thù.
Mùa xuân năm 1975, ông cùng đơn vị đi đến tận cùng chiến dịch lịch sử, chứng kiến giờ phút non sông thu về một mối, đất nước hoàn toàn đại thắng. Sau khi hoàn thành xuất sắc nghĩa vụ quân sự thiêng liêng, cựu chiến binh Nguyễn Đức Thành chính thức xuất ngũ trở về quê hương vào đúng năm 1975.
Rời xa khói lửa chiến trường, người cựu chiến binh ấy trở lại với cuộc sống lao động đời thường giản dị, chất phác. Ông mang theo chiếc ba lô bạc màu và những vết sẹo chiến tranh như một minh chứng của một thời tuổi trẻ oanh liệt, hết lòng cống hiến cho Tổ quốc. Đối với ông, chặng đường 12 năm thanh xuân đầy bão lửa từ 1963 đến 1975 luôn là tài sản tinh thần vô giá, là câu chuyện kiêu hãnh để ông tiếp tục sống gương mẫu, làm điểm tựa tinh thần vững chắc và truyền lại ngọn lửa yêu nước cho thế hệ con cháu mai sau



