Nguyễn Đức Thuận – Người chiến sĩ công đoàn trung kiên
Nguyễn Đức Thuận – Người chiến sĩ công đoàn trung kiên
Nguyễn Đức Thuận – Người chiến sĩ công đoàn trung kiên
Nguyễn Đức Thuận sinh năm 1916, tên thật là Bùi Phong Tư, trong một gia đình nông dân nghèo ở xã Bảo Ngũ, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Từ nhỏ, ông đã mang trong mình khát khao công bằng và khát vọng thay đổi số phận con người lao động. Khi lên Hà Nội làm thợ thủy tinh, Thuận sớm gia nhập phong trào công nhân đấu tranh – anh cùng nhiều người thợ kiên quyết đòi quyền lợi: giảm giờ làm, bảo vệ quyền công nhân. Chính tại môi trường này, ông gặp những người cộng sản và nhanh chóng bị giác ngộ, để rồi vào năm 1937 gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương.
Cuộc chiến chống đế quốc, chống áp bức là lẽ sống của ông. Đến cuối năm 1940, ông bị thực dân Pháp bắt giam, bị kết án khổ sai 15 năm, trải qua ngục tù Sơn La, rồi bị đày ra Côn Đảo – nơi “địa ngục trần gian” với đủ hình thức tra tấn dã man. Nhưng Thuận không khuất phục. Ông tiếp tục tổ chức chi bộ trong nhà tù, tuyên truyền cho các đồng chí trong lao tù, duy trì tinh thần cách mạng bền bỉ.
Khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Thuận được trả tự do và nhận nhiệm vụ lớn: ông làm Bí thư Tỉnh ủy Thủ Dầu Một rồi Phó Bí thư Xứ ủy Nam Bộ. Ông lên kế hoạch, tổ chức phong trào công nhân, vận động lao động tham gia cách mạng, xây dựng lực lượng để phục vụ kháng chiến và xây dựng đất nước. Trong những năm khó khăn, ông kiên trì khơi dậy tinh thần đoàn kết công nhân, khẳng định vai trò lớn lao của giai cấp lao động trong công cuộc cách mạng.
Sau khi đất nước thống nhất, Thuận tiếp tục đảm nhận nhiều vị trí quan trọng. Năm 1967, ông trở thành Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Tổng Công đoàn Việt Nam. Đến năm 1980, ông được bầu làm Chủ tịch Tổng Công đoàn Việt Nam, giữ vị trí này cho đến khi ông mất. Trong nhiệm kỳ, ông luôn chăm lo cho đời sống công nhân, thúc đẩy các phong trào thi đua lao động giỏi – sáng tạo, đấu tranh vì quyền lợi người lao động, và góp phần xây dựng tổ chức công đoàn vững mạnh.
Cuộc đời Thuận là chuỗi hy sinh vì lý tưởng: ông sống giản dị, luôn gần gũi nhân dân và công nhân, không ham của cải cá nhân. Ông viết hồi ký “Bất khuất”, ghi lại cuộc đấu tranh dũng cảm trong ngục tù, truyền cảm hứng cho nhiều thế hệ về lòng kiên trung và tinh thần không khuất phục.
Vì những công lao to lớn, ông được Nhà nước tặng nhiều huân chương cao quý: Huân chương kháng chiến chống Pháp hạng Nhất, Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Quyết thắng hạng Nhất và Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng. Khi ông qua đời ngày 4/10/1985, nhân dân và đồng chí nhớ đến ông như người chiến sĩ công đoàn kiên cường, người cộng sản mẫu mực, luôn vì lợi ích của người lao động.
Tên ông được đặt cho Giải thưởng Nguyễn Đức Thuận, một giải dành để vinh danh công nhân, viên chức, lao động tiêu biểu – đó là minh chứng cho ảnh hưởng sâu rộng và ý nghĩa lâu dài của tấm gương ông để lại.
Ông là tấm gương chịu đựng và kiên cường: dù bị giam giữ, tra tấn, vẫn giữ vững lập trường cách mạng. Ông là người cộng sản gắn liền với giai cấp công nhân: từ phong trào thợ thuyền, đấu tranh công đoàn đến lãnh đạo cơ quan công đoàn cao nhất. Ông thể hiện tinh thần phục vụ dân, phục vụ công nhân: luôn đặt lợi ích người lao động lên hàng đầu. Cuộc đời ông là lời nhắc nhở cho thế hệ sau: lý tưởng cách mạng không chỉ là lý thuyết, mà là sống bằng hành động, bằng hy sinh và bằng cả một đời cống hiến.



