Nguyễn Duy Dũng – ký ức của người lính đặc công ngày Đà Lạt giải phóng
Nguyễn Thu Thuỷ

Nguyễn Duy Dũng – ký ức của người lính đặc công ngày Đà Lạt giải phóng

Có những ngày lịch sử chỉ diễn ra một lần, nhưng ký ức về nó có thể theo một con người suốt cả cuộc đời. Với cựu chiến binh Nguyễn Duy Dũng, ngày 3/4/1975 – ngày Đà Lạt được giải phóng – là một ngày như thế.
Sinh năm 1949 tại Bắc Ninh, Nguyễn Duy Dũng từng tốt nghiệp trung học sư phạm. Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ ngày càng ác liệt, thay vì tiếp tục cuộc sống của một người thầy giáo, ông tình nguyện lên đường nhập ngũ. Năm 1968, ông được tuyển chọn vào lực lượng đặc công và huấn luyện để hoạt động tại chiến trường miền Nam.
Cuối năm 1968, đơn vị của ông bắt đầu hành quân vào Nam. Sau một chặng đường dài, đến năm 1969, đơn vị được điều động về chiến trường Đà Lạt – Tuyên Đức. Đây là lực lượng đặc công chuyên hoạt động trong đô thị, với nhiệm vụ đánh vào những mục tiêu quan trọng và xây dựng cơ sở cách mạng ngay trong lòng đối phương.
Những năm tháng ở Đà Lạt của người lính trẻ Nguyễn Duy Dũng là những năm tháng đầy nguy hiểm. Đơn vị của ông tham gia nhiều trận đánh, trong đó có những trận nhằm vào các mục tiêu quan trọng của đối phương. Có thời điểm, ông và đồng đội phải cải trang thành lính đối phương để hoạt động bí mật, tìm cách tiếp cận mục tiêu và hỗ trợ phong trào cách mạng trong thành phố.
Một trong những ký ức đáng nhớ của ông là trận chiến trên đồi Đá vào dịp Tết Dương lịch 1970–1971. Khi lực lượng đối phương bất ngờ tổ chức trận càn vào nơi đóng quân, đơn vị của ông đã chiến đấu chống trả và buộc đối phương phải rút lui.
Nhưng ký ức sâu đậm nhất có lẽ là những ngày cuối tháng 3 và đầu tháng 4 năm 1975.
Khi thời cơ giải phóng Đà Lạt đến gần, đơn vị của Nguyễn Duy Dũng được giao nhiệm vụ trinh sát sáu mục tiêu đầu não của đối phương, nhằm giúp lực lượng chủ lực tiến vào thành phố. Những người lính đặc công phải nắm tình hình, xác định các vị trí quan trọng và chuẩn bị cho thời điểm quân chủ lực tiến vào.
Rồi tình hình thay đổi rất nhanh.
Đêm 31/3/1975, trước sức ép của quân giải phóng, đối phương đã tự đốt kho xăng và kho đạn tại khu vực sân bay Cam Ly rồi rút khỏi thành phố. Sang ngày 1 và 2/4, các vị trí quan trọng ở Đà Lạt hầu như không còn lực lượng đối phương.
Sáng 2/4, Nguyễn Duy Dũng cùng đồng đội được giao nhiệm vụ chốt kiểm soát tình hình tại khu vực rạp Hòa Bình, sau đó tiếp quản sân bay Cam Ly. Đến sáng 3/4/1975, lực lượng chủ lực tiến vào và cắm cờ giải phóng tại các địa điểm quan trọng, đánh dấu thời khắc Đà Lạt được giải phóng.
Điều đặc biệt trong ký ức của ông là ngày giải phóng Đà Lạt diễn ra khác với những trận đánh khốc liệt mà ông từng trải qua. Sau nhiều năm chiến đấu, thời khắc mà ông và đồng đội chờ đợi cuối cùng cũng đến. Người lính từng sống giữa hiểm nguy giờ chứng kiến một thành phố bước sang những ngày không còn tiếng súng.
Sau ngày đất nước thống nhất, ông Nguyễn Duy Dũng không trở về quê mà tiếp tục ở lại Đà Lạt. Năm 1977, ông xuất ngũ và chuyển sang công tác trong ngành giáo dục địa phương cho đến khi nghỉ hưu. Đà Lạt, nơi từng là chiến trường của tuổi trẻ, cuối cùng lại trở thành nơi ông gắn bó với cuộc sống sau chiến tranh.
Đã nhiều thập kỷ trôi qua, nhưng mỗi khi tháng Tư trở về, những ký ức của người lính năm xưa vẫn ùa về. Với Nguyễn Duy Dũng, đó không chỉ là ký ức về một chiến thắng, mà còn là ký ức về tuổi trẻ, đồng đội và những năm tháng không thể quay lại.
Câu chuyện của ông khiến chúng ta nhận ra rằng lịch sử không chỉ nằm trong những con số hay những mốc thời gian. Lịch sử còn nằm trong ký ức của những con người đã trực tiếp sống qua nó.
Ngày hôm nay, những con đường Đà Lạt đã đông đúc, thành phố đã trở thành một điểm đến yên bình. Ít ai có thể tưởng tượng rằng hơn nửa thế kỷ trước, nơi đây từng là một chiến trường mà những người lính trẻ như Nguyễn Duy Dũng đã gửi lại những năm tháng đẹp nhất của tuổi thanh xuân.
Chiến tranh đã qua, nhưng ký ức vẫn còn. Và những câu chuyện như của cựu chiến binh Nguyễn Duy Dũng giúp thế hệ hôm nay hiểu rằng cuộc sống bình yên không phải điều tự nhiên mà có. Đó là thành quả được đánh đổi bằng tuổi trẻ, mồ hôi và sự hy sinh của cả một thế hệ.



