Người có công giúp đỡ cách mạng

Nguyễn Duy Trinh - người con ưu tú của quê hương xứ Nghệ

Nguyễn Duy Trinh, tên khai sinh là Nguyễn Đình Biền (1910-1985), là một nhà lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước, đồng thời là một nhà ngoại giao lỗi lạc của dân tộc Việt Nam. Trong gần 60 năm hoạt động cách mạng, ông đã trải qua nhiều chặng đường gian khổ, từ những năm tháng bị giam cầm trong lao tù thực dân đến khi đảm nhiệm các trọng trách quan trọng như Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và Phó Thủ tướng Chính phủ. Ông là người trực tiếp tham gia đàm phán và ký kết Hiệp định Paris năm 1973, góp phần b

TP. Hồ Chí Minh02/07/2026Đoàn Trường Đại học Kinh tế - Luật (Đoàn Trường Đại học Kinh tế - Luật)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Nguyễn Duy Trinh - người con ưu tú của quê hương xứ Nghệ

Ngày 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, đánh dấu thắng lợi có ý nghĩa chiến lược trên mặt trận ngoại giao của dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Gắn liền với thắng lợi đó là tên tuổi của đồng chí Nguyễn Duy Trinh - nhà lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước, người đã dành gần 60 năm cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng. Ông luôn thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy chiến lược sắc bén, vận dụng linh hoạt phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” với tinh thần phụng sự Tổ quốc. Cuộc đời hoạt động của đồng chí Nguyễn Duy Trinh phản ánh sinh động hành trình đấu tranh của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX, đồng thời để lại nhiều dấu ấn quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển nền ngoại giao nước nhà.

Đồng chí Nguyễn Duy Trinh, tên khai sinh là Nguyễn Đình Biền, sinh ngày 15 tháng 7 năm 1910 tại làng Cổ Đan, tổng Đặng Xá, nay thuộc xã Phúc Thọ, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Ông xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo trên vùng đất xứ Nghệ giàu truyền thống yêu nước và cách mạng. Năm 1928, để thuận lợi cho hoạt động cách mạng, ông lấy tên Nguyễn Duy Trinh và sử dụng tên gọi này trong suốt cuộc đời hoạt động của mình. Lớn lên trong bối cảnh đất nước chìm trong ách đô hộ của thực dân Pháp, ông sớm giác ngộ lý tưởng cách mạng và tham gia phong trào học sinh yêu nước tại Vinh. Năm 1927 - 1928, ông gia nhập Đảng Tân Việt, một tổ chức tiền thân có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Cuộc đời hoạt động của đồng chí là hành trình gần sáu mươi năm cống hiến liên tục cho Đảng, cho Tổ quốc và nhân dân.

Những năm tháng tuổi trẻ của Nguyễn Duy Trinh gắn liền với sự đàn áp khốc liệt của thực dân Pháp. Ngay từ năm 1928, ông bị bắt tại Sài Gòn, bị kết án 18 tháng tù giam và bị trục xuất về quê. Trong cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh những năm 1930 - 1931, khi nhiều cơ sở Đảng bị khủng bố ác liệt, ông đã chủ động liên lạc, khôi phục phong trào cách mạng và được tín nhiệm bầu làm Bí thư Huyện ủy Nghi Lộc. Sau đó, ông tiếp tục bị bắt, bị kết án tù khổ sai và bị đày đến nhiều nhà tù khét tiếng như Buôn Ma Thuột, Kon Tum, Côn Đảo. Tuy nhiên, những năm tháng lao tù không thể khuất phục được ý chí của người chiến sĩ cộng sản. Sau khi được trả tự do, ông tiếp tục tham gia hoạt động cách mạng và trực tiếp tham gia lãnh đạo cuộc khởi nghĩa giành chính quyền tại Vinh và Huế trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Sau khi đất nước giành được độc lập, đồng chí Nguyễn Duy Trinh được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng giao nhiều trọng trách quan trọng như Thường vụ Xứ ủy Trung Bộ, Bí thư Liên khu ủy V, Bộ trưởng Phủ Thủ tướng, Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Phó Thủ tướng Chính phủ và Ủy viên Hội đồng Quốc phòng. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng năm 1960, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Bộ Chính trị. Trên cương vị Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, đồng chí đã tham gia chỉ đạo và xây dựng nhiều chủ trương quan trọng nhằm phát triển kinh tế, củng cố hậu phương miền Bắc và từng bước đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Tuy nhiên, dấu ấn nổi bật nhất trong sự nghiệp của đồng chí Nguyễn Duy Trinh thuộc về lĩnh vực đối ngoại. Từ tháng 5 năm 1965 đến tháng 4 năm 1980, ông giữ cương vị Bộ trưởng Bộ Ngoại giao. Là học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông đã góp phần xây dựng nền ngoại giao Việt Nam mang bản sắc độc lập, tự chủ và kiên định về nguyên tắc. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đồng chí đã lãnh đạo ngành ngoại giao tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ rộng rãi của cộng đồng quốc tế đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam.

Nhắc đến Nguyễn Duy Trinh là nhắc đến dấu ấn đặc biệt tại Hội nghị Paris. Trong suốt gần năm năm đàm phán từ năm 1968 đến năm 1973, ông trực tiếp tham gia hoạch định nhiều chủ trương chiến lược quan trọng, chỉ đạo phối hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao. Hiệp định Paris được ký kết đã buộc Mỹ rút quân khỏi Việt Nam, tạo tiền đề quan trọng cho Đại thắng mùa Xuân năm 1975 và sự nghiệp thống nhất đất nước. Bên cạnh đó, đồng chí còn đặc biệt coi trọng công tác thông tin đối ngoại. Trong thời gian diễn ra Hội nghị Paris, ông đã có nhiều bài phát biểu, trả lời phỏng vấn các cơ quan báo chí trong và ngoài nước nhằm truyền tải quan điểm, lập trường chính nghĩa của Việt Nam tới dư luận quốc tế.

Sau khi đất nước thống nhất, đồng chí Nguyễn Duy Trinh tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong công cuộc tái thiết và mở rộng quan hệ đối ngoại. Ông cùng tập thể lãnh đạo Đảng và Nhà nước thúc đẩy việc mở rộng quan hệ với các nước trong khu vực và trên thế giới. Tháng 7 năm 1977, ông thay mặt Đảng và Nhà nước tham dự Lễ thượng cờ tại Trụ sở Liên Hợp Quốc, đánh dấu thời khắc Việt Nam chính thức trở thành thành viên của tổ chức quốc tế lớn nhất thế giới. Tại Đại hội Đảng lần thứ IV năm 1976 và Đại hội lần thứ V năm 1982, ông tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và giữ nhiều trọng trách quan trọng của Đảng và Nhà nước.

Không chỉ là một nhà lãnh đạo tài năng, đồng chí Nguyễn Duy Trinh còn được biết đến với lối sống giản dị, khiêm nhường, tinh thần tận tụy vì nước, vì dân và tầm nhìn chiến lược sâu rộng. Ông đã được Đảng và Nhà nước trao tặng Huân chương Sao Vàng cùng nhiều phần thưởng cao quý như Huân chương Kháng chiến hạng Nhất và Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất. Tên tuổi của ông được đặt cho nhiều tuyến đường lớn.

Đồng chí Nguyễn Duy Trinh từ trần ngày 20 tháng 4 năm 1985, hưởng thọ 75 tuổi. Dù đã đi xa, cuộc đời và sự nghiệp của ông vẫn là biểu tượng của lòng yêu nước, ý chí kiên cường và trí tuệ của người cộng sản Việt Nam. Những đóng góp của ông đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước và phát triển nền ngoại giao Việt Nam sẽ luôn được các thế hệ hôm nay và mai sau trân trọng, ghi nhớ.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn