Bài viết

Nguyễn Hoàng và bước đầu tiến vào vùng Nam Trung Bộ

Gia Lai20/05/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn (thế kỷ XVIII) chép về sự kiện này như sau: Tháng giêng năm thứ 2 niên hiệu Hồng Đức (năm Tân Mão, 1471) vua truyền lệnh cho quân ở trấn Thuận Hóa phải ra biển thử tập thủy quân tham chiến… Tháng 2 năm này, Ngài ra lệnh đánh phá thành Đồ Bàn của Chiêm Thành. Quân Thuận Hóa bắt sống được Trà Tuyền. Còn tướng Chiêm Thành là Bô Trì Trì thì chạy tới đất Phiên Lung, chiếm cứ đất ấy xưng vương. Bô Trì Trì chỉ chiếm được một phần năm đất đai so với đất nước Chiêm Thành, nhưng hắn lại sai người vào dâng lễ cống hiến vua ta, nên Ngài phong cho hắn làm vua Chiêm Thành.

Nhà vua lại phong cho Thúy Anh vương và Nam Bàn vương, hợp với Chiêm Thành vương cộng là ba nước (Chiêm Thành chia ra ba nước). Ta chỉ lấy đất Thái Chiêm (tức Cổ Chiêm) và đất Cổ Lũy(2). Sau khi vua Lê Thánh Tông chiếm Trà Bàn, một tướng Chiêm là Bô Trì Trì chạy thoát, đem tàn quân vào Phan Lung (Phan Rang) tự xưng vương, giữ được hơn 1/5 đất đai cũ của Chiêm, sai người đến xin xưng thần và nạp cống. Vua Thánh Tông nhân đó chia đất đai còn lại của Chiêm Thành làm 3 nước cho yếu thế đi:

– Chiêm Thành là đất từ núi mà sau đó gọi là Thạch Bi trở về Nam, phong cho Bô Trì Trì.

– Nam Bàn là đất từ núi này trở về Tây, phong cho dòng dõi của vua cũ nước Chiêm còn sót lại.

– Hoa Anh (nước này về sau mòn mỏi, suy yếu, không thể khảo cứu được).

Tương truyền rằng vua Lê Thánh Tông đánh Chiêm Thành, mở đất đến biên giới hai tỉnh Phú Yên – Khánh Hòa ngày nay, sai đục đá ở đỉnh núi cao nhất trên bờ biển ở đây để dựng bia phân định địa giới của ta và đất của Chiêm, núi ấy sau gọi là núi Thạch Bi. Bia ấy hiện còn nhưng vết chữ đã mòn không thể nhận ra được, nhưng tương truyền văn bia rằng“Chiêm Thành quá thử, binh bại quốc vong. An Nam quá thử, tướng tru binh chiết”, có nghĩa là Chiêm Thành qua đây quân thua nước mất. AnNam qua đấy, tướng chết quân tan. Nhưng nếu bia ở Thạch Bi Sơn là thực do vua Lê Thánh Tông dựng lên thì có lẽ sau khi vua chiếm được Đồ Bàn, cho tướng tá đưa quân đi vào đến hết địa phận tỉnh Phú Yên ngày nay, rồi nhân đó đục đá làm bia chứ nhà vua không đến đó, vì ngày mùng hai tháng ba Tân Mão (1471) đã ban sư rồi. Dầu sao sau cuộc chiến thắng này uy quyền của vua Đại Việt cũng đến Bình Định chứ chưa vào đến núi Thạch Bi, đất đai bên kia đèo Cù Mông chưa thuộc bản đồ Đại Việt. Vậy đất từ núi Cù Mông đến núi Thạch Bi – vùng Phú Yên ngày nay – vua Lê Thánh Tông đã không giao cho Trì mà nhà vua cũng không khai thác, người Chiêm vẫn chiếm nó như cũ, đến đời chúa Nguyễn Hoàng sau này mới đánh lấy. Hay đấy là nước Hoa Anh chăng(3)?

Công trình Lịch sử vương quốc Chămpa đề cập đến sự kiện lập nước Hoa Anh như sau.

Năm 1471 khi đi đánh Chămpa, lấy được kinh đô Vijaya Lê Thánh Tông có ý dừng lại, chia làm cương vực ở đó. Mặc dù bấy giờ như ta đã biết, vương triều Vijaya đã suy mà Đại Việt thì đang trong thời thịnh trị. Nhà Lê không muốn và chắc chắn cũng không nghĩ tới việc cố thôn tính một quốc gia khác mà chỉ mong sự yên ổn lâu dài trên biên giới phía Nam.

Vua Lê thân chinh, theo như tuyên bố, là vì Chiêm Thành đã quấy nhiễu biên giới, cũng vì một quan niệm là “Đại Chiêm và Cổ Lũy trước là đất của ta, gần đây bị mất về nước Chiêm Thành, nên lấy lại được hết, sai các ngươi trấn thủ”. Vua đã lấy cả vùng Vijaya nay là Bình Định liền một dải với Cổ Lũy để có địa giới tự nhiên hiểm trở ở phía Nam là đèo Cù Mông, lập ra đạo Quảng Nam, nhằm thực hiện ý định đó. Trong cuộc hành quân này, quân Đại Việt còn vượt qua đèo Cù Mông tiến tới núi Bia Đá (Thạch Bi). Núi Thạch Bi ở phía Đông huyện Tuy Hòa, phía bắc đèo Cả, thuộc thị xã Tuy Hòa tỉnh Phú Yên ngày nay. Với ý định tạo nên sự yên ổn lâu dài ở phía Nam, vua Lê cắt phần đất ven biển từ đèo Cù Mông tới Đèo Cả (hay Đại Lãnh) lập nên một nước riêng gọi là nước Hoa Anh. Lại lấy phần thượng nguyên ở phía tây nước Hoa Anh – vùng Cheo Reo để lập nước Nam Bàn. Như vậy Chiêm Thành ngăn cách hẳn với Đại Việt bằng hai nước, tuy nhỏ nhưng cũng là tấm đệm từ miền núi ra đến biển.

Nam Bàn là nơi sinh sống của hai bộ lạc ở vùng thượng lưu sông Đà Rằng, sau cũng tự lập thành hai nước gọi là Thủy Xá và Hỏa Xá, đều thần phục nhà Nguyễn. Còn thì từ Cù Mông về nam, còn thuộc về người Man, người Lạo. Người Man và người Lạo chắc là người Chăm và một tộc người khác vốn cư trú chủ yếu ở vùng thượng nguyên. Vua Lê đã lấy một phần lãnh thổ của họ, lập riêng nước Hoa Anh và đã cử một hào trưởng địa phương làm Hoa Anh vương.

Phía nam đèo Cả, tức phía nam nước Hoa Anh và nước Nam Bàn, Bô Trì Trì tiếp tục giữ nước Chiêm Thành, như nay đã bị thu hẹp khá nhiều. Bô Trì Trì, tướng của Bàn La Trà Toàn lên làm vua, tương ứng với Po Kabrah trong niên giám (1460 – 1494) và như thế ông này làm vua được 24 năm(4).

TheoPhủ biên tạp lục “Núi Thạnh Bi thuộc Phủ Phú Yên là nơi phân cương giới giữa Tiên triều (tức triều chúa Nguyễn) nước ta cùng nước Chiêm Thành. Hòn núi ấy phát xuất từ một nơi rất xa xôi, trong một dãy núi từ đầu nguồn liên lạc với nhau chảy thẳng xuống bãi biển, hòn núi Thạch Bi là núi cao nhất, hơn hẳn các núi khác. Vua Lê Thánh Tông ngày xưa đi đánh được nước Chiêm Thành lấy đất này đặt ra xứ Quảng Nam, rồi sách lập dòng dõi của vua cũ Chiêm Thành và cho vua Chiêm Thành ấy cai trị cõi đất từ núi Thạch Bi trở về phía Tây. Trên đỉnh núi Thạch Bi, người ta dựng một cái bia đá để làm ranh giới. Bia đá trở lưng về phía bắc, và hướng mặt về phương nam. Vì quá lâu năm nên bia đá đã mất hẳn tự tích(5).

Một số sách sử triều Nguyễn như Đại Nam Nhất thống chí, Hoàng Việt nhất thống dư địa chí, Phương đình dư địa chí thì cho rằng sau khi chiếm thành Trà Bàn, thừa thắng quân Đại Việt vượt đèo Cù Mông tiến thẳng tới Đèo Cả, vua Lê Thánh Tông khắc bia trên núi để ghi dấu chiến công, phân định ranh giới hai nước Việt – Chiêm.

Đại Nam nhất thống chí nói về Thạch Bi sơn: núi này ở phía đông nam phủ (Tuy Hòa), năm Tân Mão (1771) niên hiệu Cảnh Hưng thứ 32 đời Duệ Tông Nguyễn Phúc Thuần núi này bị sét đánh, đá núi đen đều biến thành trắng xóa, xa trông như bia đá đứng sững, sắc như vôi đá, chúa (vua) bèn sai quan cầu đảo. Núi này có nhiều thú dữ nên ít có người dám tới đó. Xét sách Thủy lục trình chí của Trần Công Hiến có đoạn chép rằng: núi này có một chi chạy sát biển, chia ra làm hai ngọn nước, cây cỏ cũng phân rẽ, có một hòn đá lớn quay đầu về hướng Đông giống như hình người. Xưa vua Lê Thánh Tông đi đánh Chiêm thành ngang qua đấy, bùi ngùi than thở rằng “từ lúc trời đất sơ khai đã phân ranh giới, vì nghịch đạo trời, nên phải chịu họa trời, nhân đó vua khiến chạm chữ lên trên đá. Sách Địa dư chí của Lê Quang Định cũng nói “vua Thánh TôngNam chinh, mở đất đến đây, ở trên đỉnh núi có sai mài khắc chữ ghi việc chia ranh giới với Chiêm Thành. Nay bia vẫn còn nhưng chữ bị sứt mẻ không nhận ra được”(6).

“…Đá Bia – Bia Đá do Lê Thánh Tông dựng ở Phú Yên 1471 là… huyền thoại, huyền tích. Và chúng tôi đã giải ảo hiện thực khi cả gan trèo lên đỉnh núi Đá Bia – Linga-parvatha (Tối linh Dương Vật) vào năm 2001 – 2002, không có cái bia nào, không một dòng chữ khắc nào của Lê Thánh Tông lưu lại nơi đây! Vả lại sử đương thời cũng không chép. Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú có chép, song cũng chỉ là “nghe nói” thôi… Sau chiến dịch năm 1471, đất Phú Yên vẫn còn thuộc Chămpa, “nước Hoa Anh” trong Sử ký Đại Việt, chẳng hạn. Đèo Cù Mông vẫn còn là ranh giới cực nam của Đại Việt thế kỷ XV…”(7)

Những tư liệu lịch sử trên đây đã cho biết một cách rõ ràng, từ năm 1471 vùng đất từ phía nam đèo Cù Mông trở vào nam có 3 vương quốc nhỏ được sự thừa nhận của Đại Việt là Chiêm Thành, Nam Bàn và Hoa Anh. Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục của nhà Nguyễn chú rằng, từ triều Lê trở về trước Nam Bàn thuộc Chiêm Thành… Từ phủ Hoài Nhân đi theo đường Thượng đạo thì phải mất 14 ngày mới tới nước này, tức là đất của hai nước Thủy Xá và Hỏa Xá bây giờ. Vậy nước Nam Bàn là miền Thượng Nguyên xưa, tức Tây Nguyên ngày nay. Còn nước Hoa Anh thì dòng dõi về sau mòn mỏi suy yếu, nay không thể khảo cứu được. Sau sự kiện này gần như sử không ghi chép gì về “nước Hoa Anh”, ngoài hai sự kiện là năm 1578 Lương Văn Chánh chiếm thành Hồ và đến đầu thế kỷ XVII dưới thời chúa Tiên Nguyễn Hoàng, năm 1611 lập Phủ Phú Yên. Như vậy, từ năm 1471 đến 1611, vùng đất Phú Yên chưa thuộc lãnh thổ Đại Việt nhưng cũng không thuộc Nam Bàn hay Chiêm Thành (mà vua Lê Thánh Tông đã phong cho Bô Trì Trì ), vì:

– Bộ Đại Việt sử ký toàn thư là bộ sử lớn của nhà Lê do sử quan Ngô Sĩ Liên soạn năm 1697 cũng như thơ văn đời Hồng Đức không nói đến sự kiện Lê Thánh Tông vào đến Đèo Cả và khắc bia đá trên núi. Sách Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn viết khoảng sau năm 1775 chỉ ghi việc dựng bia đá làm ranh giới nhưng “vì quá lâu năm nên bia đá đã mất hẳn tự tích”, không thấy ghi văn bia.

– Theo Hoàng Việt nhất thống dư địa chí (đầu thế kỷ XIX) thì “nay hiện còn những chữ sứt mẻ mờ lạt, không còn nhận rõ được… chỉ nghe truyền khẩu chữ bia” do vua Lê Thánh Tông cho khắc trên núi Đá Bia. Theo một vài sách khác và theo truyền thuyết thì văn bia có các từ quốc hiệu như “Việt Nam”, “An Nam” là những quốc hiệu mà nhà Lê không dùng. Có thể việc này do người đời sau thêm vào.

– Đến năm Mậu Dần (1578) Lương Văn Chánh được bổ làm Tri huyện Tuy Viễn (tức An Nhơn, Tuy Phước hiện nay). Lương Văn Chánh đem quân đánh lấy thành của người Chăm ở Tuy Hòa (Thành Hồ), sau đó mới chiêu tập lưu dân Thuận Quảng đưa vào khai phá vùng đất mới Cù Mông, Bà Đài, Đà Diễn (sẽ nói ở phần sau).

Căn cứ vào sử liệu các nhà nghiên cứu đều nghiêng về ý kiến cho rằng: “nước Hoa Anh” chính là vùng đất Phú Yên ngày nay. Tuy nhiên, nếu nước Chiêm Thành (vùng Phan Rang) và nước Nam Bàn (Tây Nguyên) được sử ghi rõ có vua là hàng tướng người Chăm thì riêng nước Hoa Anh không thấy ghi vua là ai, cũng như không ghi lại mối quan hệ “bang giao” nào giữa chúa Nguyễn với nước này.

2. Vùng đất Phú Yên – nước Hoa Anh – từ cuối thế kỷ XV đến năm 1611.

Khi nói đến lịch sử vương quốc Chămpa, nhiều nhà nghiên cứu đã cho rằng vương quốc Chămpa không phải là một nhà nước thống nhất chặt chẽ và lâu dài, mà là một liên minh của các tiểu vương quốc theo từng tiểu vùng địa – văn hóa, gọi là mandala. Như vậy với thực thể vùng đất Bình Định xưa thuộc tiểu vương quốc Vijaya, vùng Phú Yên xưa – Môn Độc quốc và Panduranga – Phan Rang là Bôn Đà Lang, thì việc vua Lê Thánh Tông chấp nhận sự tồn tại của nước Hoa Anh (vùng đất Phú Yên) song song với sự tồn tại của tiểu vương quốc phía nam đèo Đại Lãnh của Bô Trì Trì là điều dễ hiểu. Đây là việc sắp đặt lại (theo hướng có lợi cho Đại Việt) một mô hình địa – chính trị đã có sẵn trong lịch sử vương quốc Chămpa nói chung và vùng đất phía nam Chămpa nói riêng. Tuy nhiên cần phải nhìn nhận rằng, sự tồn tại của các tiểu quốc trên luôn chịu ảnh hưởng và không thể tách rời mối quan hệ vô cùng chặt chẽ – ở một mức độ nào đó là sự phụ thuộc – vào Đại Việt, vào tình hình chính trị cũng như các chính sách của Đại Việt đối với các tiểu quốc này. Như vậy, để tìm hiểu về vùng đất Phú Yên giai đoạn này cũng là để phác dựng lại nước Hoa Anh trong lịch sử, trước hết cần phải tìm hiểu tình hình Đại Việt khoảng từ cuối thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XVII.

Sau cuộc Nam chinh năm 1470 – 1471 vua Lê Thánh Tông lấy đất Chiêm Thành vừa chiếm lại đặt làm đạo Thừa tuyên Quảng Nam, cộng trong nước là 13 Thừa tuyên, danh từ Quảng Nam có từ lúc ấy. Đạo Thừa tuyên Quảng Nam thống lãnh 3 phủ, 9 huyện, địa bàn từ Quảng Nam đến hết Bình Định ngày nay. Nhà vua còn tổ chức lại việc cai trị các châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa đã có từ trước, cho người Chiêm đầu hàng là Ba Thái làm Đồng Tri phủ Đại Chiêm. Với ý định lập cương giới Đại Việt ở đèo Cù Mông – sau khi dựng nên hai quốc gia đệm ở phương nam – đã hình thành dưới thời vua Lê Thánh Tông, lại tiếp tục được củng cố dưới triều các vua sau đó của nhà Lê. Sau cuộc Nam chinh trở về hẳn việc chiêu mộ nhân dân vào vùng đất mới tiếp tục diễn ra và ngày càng mạnh mẽ. Vùng đất mới là Phủ Hoài Nhân tức tỉnh Bình Định ngày nay là vùng đất rộng rãi, đồng bằng phì nhiêu, có cửa biển lớn… có sức hấp dẫn đối với lưu dân, trong đó có nhiều binh lính tham gia chiến tranh đã ở lại vùng đất mới và mang theo gia đình của họ, cũng như thuận tiện cho việc lưu đày đến nơi xa xôi những tù nhân, tội phạm của nhà nước. Những cuộc di dân mà triều đình xuống chiếu chiêu mộ khuyến khích khai thác đất mới với quy mô lớn có vai trò quan trọng của nhiều gia đình dòng họ. Truyền thống của người Việt trong việc duy trì tính chất đại gia đình đã đóng một vai trò quan trọng trong việc di dân vào phía Nam, truyền thống này khuyến khích di dân đi theo từng nhóm cùng huyết thống hay họ tộc. Ngoài ra còn có cuộc di cư của những người nghèo khó muốn tìm chỗ làm ăn dễ dàng, hay can tội phải trốn tránh, bất mãn hay vì một lý do nào đấy không thể sống tại quê cũ, khi lẻ tẻ một vài gia đình, khi từng nhóm nhỏ vẫn liên tục và âm thầm diễn ra. Các cuộc di dân từ sau năm 1471 khá thuận lợi, người Việt vào vùng đất mới sống yên ổn vì không còn lo sợ xung đột giữa Đại Việt và Chămpa. Mục đích của những người dân Việt khi di cư đến vùng đất mới là nhằm tìm kiếm đất đai để cày cấy làm ăn chứ không phải để bắt tù binh nô lệ hay cướp bóc của cải. Nhờ vậy mà họ sớm hòa nhập với cộng đồng cư dân bản địa, lập nên làng xóm mới, cùng lao động và hòa hợp trong những sinh hoạt văn hóa. Từ đó, phía bắc đèo Cù Mông, thuộc thừa tuyên Quảng Nam chính thức là đất đai của Đại Việt còn từ phía nam đèo Cù Mông “thuộc man lèo” – một tiểu quốc của người dân tộc khác người Việt – chính là nước Hoa Anh.

TheoĐại Việt sử ký toàn thưPhủ biên tạp lục, tình hình vùng đất mới trong thời kỳ nửa sau thế kỷ XV như sau:

Tháng tư năm thứ 12 niên hiệu Hồng Đức (Tân Sửu, 1481), nhà vua xét vì tại Quảng Nam không có thuyền, nên hàng năm giang thuế quân dân thường bị tổn thất. Vì vậy Ngài ban sắc từ nay trở đi, hễ mỗi khi tới kỳ nạp thuế, Ngài cho phép Ty Thừa tuyên Quảng Nam đưa văn thư tới Tam ty Thuận Hóa, đồng thời giao phó các hạng vật thuế cho Tam ty Thuận Hóa ấy, để nơi ấy sai phái người chuyển đệ lên cấp trên đăng nạp.

Tháng mười năm thứ 19 niên hiệu Hồng Đức (Mậu Thân, 1488), nhà vua hạ lệnh cho viên tham chánh Quảng Nam là Phạm Bá Tôn rằng: hễ quân sĩ hay nhân dân sinh con trai từ 15 tuổi trở lên mà có vẻ thông minh hiếu học, thì đến ngày thi Hương, hội đồng phải lực chọn lấy sinh viên sung vào danh sách sinh đồ trong phủ.

Tháng tư năm thứ 21 niên hiệu Hồng Đức (Canh Tuất, 1490), nhà vua định lại bản đồ trong toàn quốc gồm 13 xứ thừa tuyên… Từ đây trở về sau đời đời phải noi theo và gìn giữ như vậy… Chỉ có hai xứ Thuận Hóa và Quảng Nam thì họ Nguyễn nối đời nhau làm chức Trấn thủ, và trong thời gian ấy, họ khai thác thêm nhiều.

Nhưng từ đầu thế kỷ XVI Đại Việt có những biến đổi quan trọng, tình hình đã diễn biến theo một chiều hướng khác hẳn và dẫn đến sự thay đổi căn bản bộ mặt của đất nước.

Năm 1527 nhà Mạc chiếm ngôi nhà Lê, rồi đến việc họ Trịnh nắm quyền bính, họ Nguyễn bị nghi kỵ và nguy cơ bị họ Trịnh hãm hại. Năm 1558, Đoan quận công Nguyễn Hoàng xin vào trấn thủ Thuận Hóa (gồm Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế ngày nay), tiếp đó vào năm 1570 xin được giao thêm quyền trấn thủ Quảng Nam (từ Quảng Nam đến Bình Định ngày nay). Từ đó họ Nguyễn ở phía nam bắt đầu ra sức xây dựng lực lượng của mình, biến miền Nam thành giang sơn cát cứ riêng biệt, lập thế đối trọng với chúa Trịnh ở phía Bắc. Rồi sang thế kỷ XVII là cuộc chiến tranh Trịnh – Nguyễn lấy sông Gianh (Quảng Bình) làm ranh giới Đàng Ngoài và Đàng Trong.

Đàng Trong dưới thời Đoan Quận công Nguyễn Hoàng (1558 – 1613) tương đối yên ổn do kinh tế khá phát triển và cũng nhờ vào sự khôn khéo của Nguyễn Hoàng với chính quyền Đàng Ngoài (vua Lê, chúa Trịnh và kể cả với nhà Mạc). Thuận Quảng lúc bấy giờ đất đai mới mở mang nhưng dân cư còn ít chưa đáp ứng nhu cầu khai khẩn – một nhu cầu bức thiết của chúa Nguyễn để thực hiện được mục đích cát cứ. Tuy trong dân cư có cả những thành phần rất phức tạp nhưng trong vài mươi năm Đoan Quận công đã “vỗ về quân dân, thu dùng hào kiệt, nhẹ xâu thuế, dân chúng vui, phục, thường gọi là chúa Tiên”. Một mặt chúa Nguyễn phải đối phó với quân nhà Mạc và cả chúa Trịnh bằng các cuộc chiến và thủ đoạn chính trị khôn khéo, mặt khác vẫn tiến hành công cuộc phát triển kinh tế Đàng Trong bằng nông nghiệp, thương nghiệp và nhiều ngành sản xuất khác… Để làm được điều đó chắc hẳn chính quyền chúa Nguyễn phải có sự ứng xử mềm dẻo với tiểu quốc của người “man lèo” ở biên giới phía nam để yên ổn mà rảnh tay chống đỡ với phía bắc. Rõ ràng thời gian này mối bận tâm của chính quyền chúa Nguyễn là phía bắc với những quan hệ ràng buộc và những mưu đồ chính trị của các thế lực Lê – Mạc – Trịnh – Nguyễn. Đấy cũng là một nguyên nhân giải thích vì sao sử nhà Nguyễn ghi chép về giai đoạn này của Nguyễn Hoàng ở Thuận – Quảng và hoạt động của ông với nhà Lê ở phía bắc khá kỹ mà hầu như không ghi chép gì về các tiểu quốc phía nam, trong đó có nước Hoa Anh. Mặt khác có thể suy đoán rằng, do tình hình nội bộ Đại Việt như vậy nên tại ba tiểu quốc này cư dân Chăm và các tộc người khác tiếp tục cuộc sống tương đối yên ổn, hầu như sử sách không ghi chép một sự kiện lớn nào xảy ra cho đến cuối thế kỷ XVI, khi mà việc thiết lập vương quyền cát cứ của chúa Nguyễn đã rõ ràng. Từ lúc đó đối với các tiểu quốc Hoa Anh và Chiêm Thành, chính quyền chúa Nguyễn bắt đầu có những động thái khác nhằm từng bước tiến về phía nam. Nhưng trước khi những sự kiện đó xảy ra, nước Hoa Anh đã tồn tại như thế nào?

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn