Nguyễn Hùng Phong: Vị tướng chính trị giỏi quân sự

Trong chiến dịch tiến công Đường số 9 - Khe Sanh (Xuân-Hè 1968), Sư đoàn 308 vinh dự tham gia chiến đấu và lập chiến công trong đợt 4 chiến dịch.
Đây là lần đầu tiên Sư đoàn trực tiếp đánh Mỹ trên chiến trường miền Nam. Hơn một tháng tham gia chiến dịch, Sư đoàn đã đánh hàng chục trận, quy mô từ đại đội đến tiểu đoàn, nhiều trận chủ động đánh địch ban ngày, loại khỏi vòng chiến đấu gần 2.000 tên lính thủy đánh bộ Mỹ, bắn rơi 39 máy bay, phá hủy 11 khẩu pháo, cối các loại cùng nhiều vũ khí, khí tài của địch.
Chiến thắng giành được trong chiến dịch tiến công Đường số 9 - Khe Sanh đã chứng tỏ một bước trưởng thành mới của Sư đoàn sau 14 năm xây dựng. Sư đoàn đã chiến đấu trực tiếp với quân chủ lực tinh nhuệ có trang bị vũ khí hiện đại của đế quốc Mỹ, lập chiến công vẻ vang.
Trong chiến dịch phản công Đường số 9 - Nam Lào (Xuân 1971), cán bộ và chiến sĩ Sư đoàn 308 đã chiến đấu liên tục trong suốt cả 52 ngày đêm của chiến dịch, tiêu diệt 4.023 tên địch, bắt 127 tên, diệt gọn thiết đoàn 17 và 4 tiểu đoàn, đánh thiệt hại nặng liên đoàn 1 biệt động quân và tiểu đoàn 1 dù của địch, phá hủy 337 xe các loại (có 205 xe tăng và xe bọc thép, 48 khẩu pháo, cối cỡ lớn, thu gần 500 súng các loại, cùng hàng chục tấn vũ khí đạn dược, trang bị kỹ thuật.
Chiến công của Sư đoàn trong chiến dịch này là thành quả của quá trình huấn luyện gian khổ, sáng tạo, đặc biệt làm tốt công tác tư tưởng.
Qua chiến dịch, Sư đoàn đã trưởng thành thêm một bước quan trọng, rút ra nhiều bài học bổ ích về cách đánh địch tiến công và phòng ngự bằng hình thức đóng chốt trên điểm cao, về cách tổ chức chốt giữ những mục tiêu chiến dịch, chiến thuật trong phòng ngự, cũng như trong tiến công, làm phong phú thêm truyền thống chiến thắng của Sư đoàn.
Tham gia trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên chiến trường Trị-Thiên, Sư đoàn đã lập công xuất sắc, tiêu diệt cụm cứ điểm Đông Hà - Lai Phước, góp phần giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị.
Trận Đông Hà - Lai Phước được coi là điểm mốc lịch sử của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc.
Đây là một trận đánh hiệp đồng binh chủng quy mô lớn nhất của quân đội ta từ trước đến lúc này. Trong đợt 2 chiến dịch, Sư đoàn 308 cùng các đơn vị tăng cường, trong thế tiến công chung của chiến dịch Quảng Trị, đã anh dũng chiến đấu, vận dụng cách đánh tốt, đạt hiệu quả cao, đập tan cụm cứ điểm kiên cố có binh lực tương đương một sư đoàn binh chủng hợp thành của quân đội Sài Gòn, được không quân và pháo hạm Mỹ chi viện.
Trong trận này, Sư đoàn 308 và các đơn vị tăng cường đã diệt 3.500 tên địch, bắt 322 tên, phá hủy 110 xe tăng, xe bọc thép, bắn rơi 45 máy bay, thu 5 pháo lớn và nhiều xe quân sự, làm tan rã 3 trung đoàn bộ binh, 2 thiết đoàn xe tăng, thiết giáp địch, đánh bại thủ đoạn phòng ngự mới của chúng, giáng một đòn nặng vào tinh thần quân Mỹ và quân đội Sài Gòn trên toàn chiến trường miền Nam.
Sau thắng lợi vang dội trong trận Đông Hà - Lai Phước, Sư đoàn lại có gần một năm liên tục chiến đấu kiên cường với nhiều cách đánh sáng tạo, đặc biệt là hình thức chiến thuật phòng ngự cụm chốt liên hoàn nên đã góp phần cùng các đơn vị bạn bảo vệ vững chắc vùng giải phóng Quảng Trị.
Tổng cộng, sau gần một năm chiến đấu trên chiến trường Quảng Trị với nhiều đợt kế tiếp, Sư đoàn đã đánh gần 800 trận lớn nhỏ từ một tổ, một tiểu đội đến tiểu đoàn, trung đoàn và sư đoàn tăng cường, diệt và bắt hơn 10.000 tên địch, phá hủy và thu 151 xe tăng thiết giáp, 17 khẩu pháo từ 105 ly đến 155 ly, bắn rơi 23 máy bay các loại.
Tuy nhiên, tại Quảng Trị, Sư đoàn cũng chịu nhiều tổn thất lớn; kể từ khi bước vào chiến đấu cho đến khi kết thúc chiến dịch; hơn 70% cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn theo biên chế hy sinh và bị thương.
Nhiều đại đội, tiểu đoàn phải thay thế cán bộ chỉ huy từ 6 tới 7 lần. Có đại đội khi kết thúc chiến dịch không còn lại một ai là cán bộ, chiến sĩ cũ có mặt từ đầu cuộc tiến công chiến lược (năm 1972).
Với cương vị là Chính ủy Sư đoàn, đồng chí Nguyễn Hùng Phong đã làm tốt công tác tư tưởng, vừa động viên bộ đội, vừa thực hiện công tác chính sách.
Vì thế chỉ trong thời gian ngắn, đội hình chiến đấu của sư đoàn đã được củng cố, trở thành “quả đấm thép” bảo vệ Thủ đô Hà Nội và hậu phương miền Bắc, vừa sẵn sàng cơ động thần tốc bằng cả đường bộ, đường thủy và đường không vào chiến trường khi nhiệm vụ cần thiết trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.
Ngày 24-10-1973, trước yêu cầu của giai đoạn cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, Quân đoàn 1 - quân đoàn chủ lực cơ động đầu tiên của Quân đội ta được thành lập. Sư đoàn 308 vinh dự được đứng trong đội hình Quân đoàn và Chính ủy sư đoàn Nguyễn Hùng Phong trở thành Phó chính ủy kiêm Chủ nhiệm Chính trị của Quân đoàn 1.


