Nguyễn Hữu An – Nhà chỉ huy quân sự tài ba của những chiến dịch quyết định
Thượng tướng Nguyễn Hữu An (1926, Ninh Bình) là nhà chỉ huy quân sự xuất sắc, tham gia nhiều chiến dịch lớn từ kháng chiến chống Pháp đến kháng chiến chống Mỹ, nổi bật với chiến công tại Điện Biên Phủ và Ia Đrăng. Trong mùa Xuân năm 1975, ông chỉ huy Quân đoàn 2 giải phóng Huế, Đà Nẵng và tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh, góp phần thống nhất đất nước.
Nguyễn Hữu An – Nhà chỉ huy quân sự tài ba của những chiến dịch quyết định
Thượng tướng Nguyễn Hữu An sinh ngày 9/10/1926 tại xã Trường Yên, huyện Gia Viễn (nay thuộc thành phố Hoa Lư), tỉnh Ninh Bình. Tháng 8 năm 1945, ông tham gia Giải phóng quân ở Yên Bái và được giao nhiệm vụ Tiểu đội trưởng. Sau thành công của Cách mạng tháng Tám, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Nguyễn Hữu An trưởng thành từ một chiến sĩ trở thành Trung đoàn trưởng, tham gia và chỉ huy nhiều trận đánh quan trọng như Bông Lau - Lũng Phầy, Đông Khê, Thất Khê, Mộc Châu và Bình Liêu. Đặc biệt, trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, khi mới 28 tuổi, ông chỉ huy Trung đoàn 174 tiêu diệt cứ điểm đồi A1, góp phần mở đường cho quân ta tiến vào trung tâm Mường Thanh và giành thắng lợi quyết định của chiến dịch.
Sau năm 1954, ông đảm nhiệm nhiều cương vị chỉ huy quan trọng trong quân đội. Năm 1964, trước tình hình Mỹ leo thang chiến tranh, ông được giao làm Tư lệnh Sư đoàn 325 rồi vào chiến trường Tây Nguyên giữ chức Phó Tư lệnh Mặt trận B3. Tại đây, ông đề xuất tập trung lực lượng tiến công các quận lỵ của địch, giải phóng nhiều địa bàn ở Bắc Tây Nguyên, mở rộng vùng giải phóng và tạo điều kiện thuận lợi cho thế trận của ta.
Năm 1965, trong Chiến dịch Plei Me và đặc biệt là trận Ia Đrăng, Nguyễn Hữu An trực tiếp chỉ huy các đơn vị chủ lực đánh bại lực lượng kỵ binh không vận Mỹ. Với nghệ thuật chỉ huy linh hoạt, quyết đoán và lối đánh gần nổi tiếng “nắm thắt lưng Mỹ mà đánh”, quân ta đã tiêu diệt và làm thiệt hại nặng các đơn vị tinh nhuệ của Mỹ. Trận Ia Đrăng trở thành một trong những trận đánh tiêu biểu, được nhiều nhà quân sự đánh giá là có ảnh hưởng lớn đến cục diện chiến tranh ở Việt Nam.
Từ năm 1969 đến 1972, ông tiếp tục được giao nhiều nhiệm vụ khó khăn trên các chiến trường trọng điểm. Ông góp phần quan trọng vào thắng lợi của Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, Chiến dịch Cánh đồng Chum và mặt trận Quảng Trị năm 1972. Với kinh nghiệm thực tiễn phong phú, ông đã đề xuất chuyển từ thế phản công sang phòng ngự nhằm giữ vững địa bàn và hạn chế tổn thất cho lực lượng ta.
Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, với cương vị Tư lệnh Quân đoàn 2, Nguyễn Hữu An chỉ huy đơn vị giải phóng Huế, Đà Nẵng và tổ chức cuộc hành quân thần tốc tiến vào miền Nam. Dưới sự chỉ huy của ông, Quân đoàn 2 trở thành lực lượng nòng cốt của “Cánh quân Duyên Hải”, góp phần quan trọng trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Những xe tăng của Quân đoàn 2 là những chiếc xe đầu tiên tiến vào Dinh Độc Lập, góp phần hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Sau chiến tranh, Nguyễn Hữu An tiếp tục đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng như quyền Tư lệnh Quân khu 2, Giám đốc Học viện Lục quân và Giám đốc Học viện Quốc phòng. Với những cống hiến to lớn cho sự nghiệp cách mạng và quốc phòng, ông được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý, trong đó có danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Các đồng chí lãnh đạo quân đội như Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đại tướng Chu Huy Mân và Đại tướng Văn Tiến Dũng đều đánh giá Nguyễn Hữu An là một vị tướng trận mạc xuất sắc, mưu lược, quyết đoán và giàu kinh nghiệm thực tiễn. Cuộc đời hoạt động cách mạng của ông là tấm gương tiêu biểu về lòng trung thành, tinh thần trách nhiệm và tài năng chỉ huy quân sự.



