Cựu chiến binh

NGUYỄN HỮU AN VÀ IA ĐRĂNG 1965 – TRẬN ĐÁNH MỞ ĐẦU NHỮNG CUỘC ĐỐI ĐẦU LỚN VỚI QUÂN MỸ

Năm 1965, khi Mỹ bắt đầu đưa lực lượng chiến đấu trực tiếp vào miền Nam, Tây Nguyên trở thành một trong những chiến trường đầu tiên đối đầu với quân Mỹ. Trong Chiến dịch Plei Me, Nguyễn Hữu An giữ cương vị Phó Tư lệnh chiến dịch và trực tiếp chỉ huy trận then chốt ở thung lũng Ia Đrăng. Thay vì đối đầu với ưu thế trực thăng, pháo binh và không quân của đối phương theo cách đánh của họ, ông tổ chức thế trận áp sát, bao vây, chia cắt và đánh gần.

Đồng Tháp18/09/2026Xã Lam Sơn (Xã Lam Sơn)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

1. Khi quân Mỹ bước vào Tây Nguyên

Mùa thu năm 1965, chiến tranh ở miền Nam chuyển sang một giai đoạn mới.

Mỹ bắt đầu đưa các đơn vị chiến đấu vào trực tiếp tham chiến.

Trên Tây Nguyên, Sư đoàn Kỵ binh Không vận số 1 của Mỹ được triển khai tới An Khê. Đây là lực lượng có khả năng cơ động bằng trực thăng với quy mô lớn, được trang bị mạnh và có khả năng sử dụng hỏa lực từ không quân, pháo binh để hỗ trợ các đơn vị dưới mặt đất.

Đối với Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên, câu hỏi lúc này không còn là liệu có phải đánh quân Mỹ hay không.

Mà là:

đánh quân Mỹ như thế nào?

Nếu để đối phương phát huy ưu thế cơ động bằng trực thăng, pháo binh và không quân, quân Giải phóng sẽ gặp bất lợi.

Vì vậy, cần đưa đối phương vào một thế trận khác.

Và Plei Me được chọn.

2. Plei Me – cái bẫy được chuẩn bị từ trước

Ngày 19/10/1965, Chiến dịch Plei Me bắt đầu.

Lực lượng chủ lực gồm các Trung đoàn 33, 320 và 66, phối hợp với đặc công, pháo binh, phòng không và lực lượng vũ trang địa phương. Bộ Tư lệnh chiến dịch do Chu Huy Mân làm Tư lệnh kiêm Chính ủy; Nguyễn Chánh và Nguyễn Hữu An là các Phó Tư lệnh.

Đồn Plei Me được chọn làm nơi “khêu ngòi”.

Quân ta vây đồn.

Mục đích không đơn giản là chiếm ngay Plei Me.

Điều quan trọng hơn là buộc đối phương phải đưa quân đến giải vây.

Khi lực lượng cứu viện rời căn cứ, chúng sẽ tiến vào khu vực mà ta đã chuẩn bị trận địa.

Đó chính là cách đánh “vây điểm, diệt viện”.

Ngày 23/10, lực lượng quân đội Sài Gòn được đưa đi giải vây Plei Me bị phục kích trên Đường 21.

Quân Mỹ sau đó phải đưa lực lượng vào tham chiến.

Thế trận bắt đầu chuyển.

3. Khi “kỵ binh bay” xuất hiện

Đầu tháng 11, Sư đoàn Kỵ binh Không vận số 1 Mỹ bắt đầu mở những cuộc hành quân tìm kiếm lực lượng chủ lực ta.

Đây chính là điều Bộ Tư lệnh Plei Me chờ đợi.

Nhưng lần này, đối phương có cách đánh rất khác.

Trực thăng đưa quân Mỹ đến những khu vực mà bộ binh thông thường rất khó tiếp cận.

Họ có thể đổ quân nhanh.

Có thể rút quân nhanh.

Có thể gọi pháo binh và không quân chi viện.

Một trận địa bị phát hiện có thể lập tức bị đánh phá bằng hỏa lực từ xa.

Nguyễn Hữu An cùng Bộ Tư lệnh chiến dịch phải giải một bài toán chưa từng gặp ở quy mô như vậy.

Tài liệu của Nhân Dân ghi lại cách tiếp cận của ông: vừa đánh, vừa tìm hiểu đối phương và rút kinh nghiệm, thay vì chờ có một phương án hoàn chỉnh rồi mới hành động.

Đó là một cách tiếp cận rất thực tế.

Đánh một trận.

Quan sát phản ứng.

Phát hiện điểm mạnh, điểm yếu.

Điều chỉnh cách đánh.

Rồi đánh tiếp.

4. Chư Pông – nơi hai bên bắt đầu va vào nhau

Đến giữa tháng 11, Bộ Tư lệnh chiến dịch xác định khu vực Chư Pông – Ia Đrăng là nơi có thể tổ chức trận quyết chiến.

Ngày 14/11, quân Mỹ dùng trực thăng đổ Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 7 Kỵ binh xuống khu vực phía đông bắc Chư Pông.

Đội hình này tiến vào khu vực mà các đơn vị của ta đã chuẩn bị.

Nguyễn Hữu An quyết định đưa sở chỉ huy tới gần trận địa.

Theo hồi ức được Nhân Dân đăng tải, ông đã lập sở chỉ huy ngay giữa khu vực vừa bị máy bay B-52 đánh phá để trực tiếp theo dõi và chỉ huy Trung đoàn 66. (nhandan.vn)

Trung đoàn 66 được lệnh đưa các Tiểu đoàn 7 và 9 truy kích.

Quân Mỹ có trực thăng.

Có pháo binh.

Có máy bay.

Nhưng bộ đội ta tìm cách áp sát.

Khoảng cách càng gần, ưu thế hỏa lực từ xa của đối phương càng khó phát huy đầy đủ.

Đó là cách đánh thường được mô tả bằng cụm từ:

“nắm thắt lưng địch mà đánh”.

5. Không để quân Mỹ đánh theo cách của họ

Điểm quan trọng nhất trong cách đánh của Nguyễn Hữu An ở Ia Đrăng là không để đối phương giữ khoảng cách an toàn.

Nếu bộ đội ta đứng xa, pháo binh và không quân Mỹ có thể phát huy sức mạnh.

Nếu đội hình bị phát hiện từ xa, trực thăng có thể cơ động.

Nhưng khi bộ binh đã áp sát nhau, tình hình thay đổi.

Hỏa lực từ trên không phải tính đến nguy cơ đánh trúng chính quân mình.

Các đơn vị Mỹ bị chia thành những cụm nhỏ.

Bộ đội ta tìm cách bao vây, chia cắt từng cụm.

Theo Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, trong đợt quyết chiến Ia Đrăng, quân ta chủ động áp sát từ nhiều hướng, bao vây, chia cắt và tiêu diệt từng cụm quân Mỹ.

Đó là một phương thức tác chiến khác hẳn cách đánh dựa trên ưu thế hỏa lực.

6. Bốn ngày ở thung lũng Ia Đrăng

Từ 14 đến 17/11/1965, những trận đánh quyết liệt diễn ra ở khu vực Ia Đrăng.

Quân Mỹ liên tục đưa thêm lực lượng bằng trực thăng.

Quân ta cũng liên tục điều chỉnh đội hình.

Có những trận hai bên chiến đấu ở khoảng cách rất gần.

Có những thời điểm bộ binh hai bên chỉ cách nhau vài chục mét.

Pháo binh và không quân Mỹ tiếp tục bắn phá.

Nhưng các đơn vị Việt Minh tìm cách bám sát đội hình Mỹ, chia cắt các cụm quân và đánh vào những nơi đối phương khó phát huy đầy đủ hỏa lực.

Báo Nhân Dân dẫn tài liệu tổng kết cho biết trong bốn ngày 14–17/11, quân ta đã tiêu diệt Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 7 Kỵ binh và đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn 1 cùng trung đoàn này.

Đó là trận then chốt của Chiến dịch Plei Me.

Và cũng là trận đánh đầu tiên ở quy mô lớn giữa lực lượng chủ lực Tây Nguyên với quân chiến đấu Mỹ tại khu vực này.

7. Một trận đánh không chỉ bằng hỏa lực

Điều đáng chú ý ở Ia Đrăng là hai bên sử dụng hai hệ thống tác chiến rất khác nhau.

Phía Mỹ dựa nhiều vào:

  • trực thăng cơ động;

  • pháo binh;

  • không quân;

  • khả năng đưa quân nhanh tới điểm nóng.

  • Phía ta dựa nhiều hơn vào:

    • nắm tình hình;

  • chuẩn bị địa hình;

  • vận động bao vây;

  • chia cắt;

  • áp sát;

  • đánh gần.

  • Vì vậy, Ia Đrăng trở thành một cuộc thử nghiệm thực tế.

    Quân Giải phóng phải tìm cách đối phó với một lực lượng có ưu thế vượt trội về phương tiện cơ động và hỏa lực.

    Nguyễn Hữu An sau này nhắc lại rằng điều quan trọng là vừa đánh vừa tìm hiểu đối phương.

    Không có một công thức duy nhất.

    Cách đánh phải được điều chỉnh theo thực tế trận địa.

    8. Plei Me kết thúc

    Chiến dịch Plei Me kéo dài từ 19/10 đến 26/11/1965, qua ba đợt.

    Đợt đầu: vây Plei Me và đánh quân cứu viện.

    Đợt hai: tiếp tục buộc quân Mỹ tham chiến.

    Đợt ba: đưa lực lượng Mỹ vào khu vực Ia Đrăng để đánh trận then chốt.

    Theo các nguồn chính thống, quân ta loại khỏi vòng chiến đấu gần 3.000 quân địch, trong đó khoảng 1.700 quân Mỹ, phá hủy nhiều phương tiện và bắn rơi, phá hỏng nhiều máy bay.

    Nhưng ý nghĩa của chiến dịch không chỉ nằm ở những con số.

    Đây là lần đầu tiên lực lượng chủ lực Tây Nguyên tổ chức một chiến dịch quy mô lớn nhằm trực tiếp đối đầu với quân Mỹ sau khi Mỹ đưa quân chiến đấu vào miền Nam.

    Và chiến trường Ia Đrăng cho thấy một điều:

    quân Mỹ có thể đưa lực lượng tới rất nhanh, nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc họ luôn giữ được thế chủ động trên mặt đất.

    9. Nguyễn Hữu An và bài toán “đánh Mỹ”

    Đối với Nguyễn Hữu An, Ia Đrăng là một trận đánh quan trọng không chỉ vì kết quả.

    Nó cung cấp những kinh nghiệm thực tế để tiếp tục nghiên cứu cách đánh quân Mỹ.

    Trước một đối phương có trực thăng, pháo binh và không quân mạnh, bộ đội không thể chỉ dựa vào lòng dũng cảm.

    Phải biết chọn địa hình.

    Phải biết bố trí lực lượng.

    Phải biết tiếp cận.

    Phải chia cắt.

    Và phải tìm cách hạn chế khả năng phát huy hỏa lực của đối phương.

    Sau Ia Đrăng, Nguyễn Hữu An tiếp tục giữ những cương vị chỉ huy quan trọng ở Tây Nguyên. Sau Tết Mậu Thân 1968, ông làm Tham mưu trưởng Mặt trận B3; năm 1969 được điều về làm Tư lệnh Sư đoàn 308, rồi tiếp tục chỉ huy trên các chiến trường lớn.

    Những kinh nghiệm từ Ia Đrăng vì thế không kết thúc cùng trận đánh.

    Chúng đi theo ông vào những chiến trường tiếp theo.

    10. Từ Ia Đrăng đến những trận đánh sau này

    Ia Đrăng năm 1965 là một trong những trận đánh đầu tiên đặt ra bài toán đối phó với quân Mỹ ở quy mô lớn.

    Những năm sau, bài toán ấy tiếp tục xuất hiện ở nhiều chiến trường.

    Nguyễn Hữu An còn trực tiếp chỉ huy Sư đoàn 308 trong Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào năm 1971.

    Năm 1972, ông tham gia chỉ huy chiến trường Trị – Thiên.

    Đến năm 1975, ông là Tư lệnh Quân đoàn 2 trong Chiến dịch Hồ Chí Minh. (nhandan.vn)

    Nhìn lại con đường ấy, Ia Đrăng không phải một trận đánh đứng riêng.

    Nó là một trong những nơi Nguyễn Hữu An trực tiếp thử nghiệm và hoàn thiện cách tổ chức chiến đấu trước một đối phương có ưu thế lớn về cơ động và hỏa lực.

    Lời kết

    Mùa thu năm 1965, quân Mỹ bắt đầu trực tiếp đưa lực lượng chiến đấu vào miền Nam.

    Trên Tây Nguyên, Sư đoàn Kỵ binh Không vận số 1 xuất hiện với một phương thức tác chiến mới: trực thăng đưa quân đi rất xa, pháo binh và không quân yểm trợ từ phía sau.

    Quân Giải phóng phải tìm cách đối phó.

    Trong Chiến dịch Plei Me, Nguyễn Hữu An là Phó Tư lệnh chiến dịch và trực tiếp chỉ huy trận then chốt ở Ia Đrăng.

    Ông không tìm cách chạy đua với quân Mỹ về máy bay hay hỏa lực.

    Cách đánh được lựa chọn là đưa bộ binh áp sát.

    Bám gần. Bao vây. Chia cắt. Đánh từng cụm.

    Từ Plei Me đến Ia Đrăng, thế trận được tạo ra từng bước.

    Đồn Plei Me là nơi khơi ngòi.

    Quân cứu viện là mục tiêu.

    Quân Mỹ là đối tượng tác chiến mới.

    Và Ia Đrăng trở thành nơi hai bên trực tiếp thử sức.

    Sau bốn ngày chiến đấu quyết liệt, quân ta đã đánh thiệt hại nặng hai tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 7 Kỵ binh Mỹ.

    Chiến dịch Plei Me kết thúc ngày 26/11/1965.

    Nhưng cuộc đối đầu giữa quân Mỹ và lực lượng cách mạng ở miền Nam còn kéo dài nhiều năm.

    Ia Đrăng vì thế trở thành một dấu mốc quan trọng: một trong những trận đánh đầu tiên cho thấy muốn đối đầu với quân Mỹ, vấn đề không chỉ là có đủ quyết tâm, mà còn phải tìm ra cách đánh phù hợp với một đối phương có ưu thế vượt trội về hỏa lực và cơ động.

    Và Nguyễn Hữu An là một trong những người trực tiếp đứng trước bài toán ấy trên chiến trường Tây Nguyên năm 1965.

    Bạn cũng đang lưu giữ
    một câu chuyện lịch sử?

    Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

    Gửi câu chuyện của bạn
    NGUYỄN HỮU AN VÀ IA ĐRĂNG 1965 – TRẬN ĐÁNH MỞ ĐẦU NHỮNG CUỘC ĐỐI ĐẦU LỚN VỚI QUÂN MỸ | Câu chuyện thời hoa lửa