Nguyễn Hữu An và trận Phan Rang 1975 – Khi Quân đoàn 2 đánh tan “lá chắn thép” trên đường vào Sài Gòn
Giữa tháng 4/1975, Quân đoàn 2 đang thần tốc từ Đà Nẵng tiến về phía Nam thì gặp tuyến phòng thủ Phan Rang được tổ chức như một tuyến ngăn chặn từ xa. Sau hai ngày Sư đoàn 3 Quân khu 5 tiến công nhưng chưa phá được toàn bộ tuyến phòng thủ, Nguyễn Hữu An đề nghị đưa Sư đoàn 325 của Quân đoàn 2 vào chiến đấu. Ngày 16/4, một đội hình bộ binh – xe tăng – pháo binh tiến công trong hành tiến, nhanh chóng chiếm Phan Rang và sân bay Thành Sơn, mở thông con đường ven biển về phía Sài Gòn.
1. Một tuyến phòng thủ được dựng lên để chặn đường vào Nam
Sau những biến động liên tiếp ở Tây Nguyên, Huế và Đà Nẵng, chính quyền Sài Gòn tìm cách lập một tuyến phòng thủ mới ở Phan Rang.
Vị trí này có Quốc lộ 1, đường sắt, cảng Tân Thành, cảng Ninh Chữ và sân bay Thành Sơn. Nếu giữ được Phan Rang, lực lượng phòng thủ hy vọng có thể làm chậm các cánh quân đang từ miền Trung tiến xuống và tạo thời gian củng cố khu vực phía nam. Bộ Tư lệnh tiền phương Quân đoàn 3 được đặt tại Thành Sơn do Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi chỉ huy. Lực lượng phòng thủ gồm nhiều đơn vị bộ binh, dù, biệt động quân, không quân và lực lượng địa phương, với hơn 10.000 quân theo các tài liệu đương thời.
Đối với cánh quân Duyên Hải, Phan Rang trở thành một nút chặn phải vượt qua nếu muốn tiếp tục phát triển nhanh về phía Sài Gòn.
Nhưng lúc này Quân đoàn 2 không còn ở Đà Nẵng.
Đội hình của Nguyễn Hữu An đã vượt hàng trăm kilômét về phía Nam và đang tiến vào một chiến trường mà phía trước vẫn còn những lực lượng có khả năng chống trả mạnh.
2. Hai ngày đầu và bài toán phải đánh khác đi
Ngày 14/4, Sư đoàn 3 của Quân khu 5 bắt đầu tiến công tuyến phòng thủ Phan Rang.
Các đơn vị lần lượt đánh vào Du Long, Ba Râu, Suối Vàng, Suối Đá và những điểm cao dọc Quốc lộ 1. Đối phương dựa vào công sự, địa hình và hỏa lực pháo binh, không quân để chống trả. Sau hai ngày chiến đấu, Sư đoàn 3 đã chiếm được một số vị trí quan trọng nhưng chưa thể phá vỡ toàn bộ hệ thống phòng thủ.
Đây là lúc Quân đoàn 2 xuất hiện trong trận đánh.
Ngày 15/4, Nguyễn Hữu An và Chính ủy Lê Linh đề nghị Bộ Tư lệnh Cánh quân Duyên Hải cho Sư đoàn 325 của Quân đoàn 2 phối hợp với Sư đoàn 3 đánh Phan Rang, nhằm nhanh chóng mở đường để toàn bộ cánh quân tiếp tục tiến về Sài Gòn. Đề nghị được chấp thuận.
Nguyễn Hữu An cùng bộ tư lệnh quân đoàn nghiên cứu cách bố trí của đối phương qua hai ngày chiến đấu.
Họ nhận thấy đối phương dựa nhiều vào hỏa lực phi pháo, bố trí các cụm phòng thủ nối tiếp nhau dọc Quốc lộ 1. Khi một cụm bị uy hiếp, lực lượng phòng thủ có thể lùi về cụm phía sau.
Nhưng hệ thống ấy cũng có điểm yếu: lực lượng phải dàn mỏng trên một địa bàn rộng, khả năng cơ động trong phòng ngự hạn chế.
Từ đó, Quân đoàn 2 quyết định không tiến công theo cách lần lượt bóc từng cụm phòng ngự.
Phương án được lựa chọn là tiến công trong hành tiến, dùng một lực lượng mạnh gồm bộ binh cơ giới và xe tăng thọc thẳng vào trung tâm, sau đó tỏa ra đánh chiếm những mục tiêu then chốt.
3. 5 giờ 30 phút: đội hình thọc sâu bắt đầu chuyển động
Rạng sáng 16/4, Trung đoàn 101 thuộc Sư đoàn 325 được tổ chức thành mũi đột kích chính diện.
Lực lượng xe tăng của Lữ đoàn 203 đi cùng bộ binh.
Đội hình tiến theo Quốc lộ 1.
Nguyễn Hữu An quyết định trực tiếp bám đội hình đi đầu. Theo hồi ức được Báo Quân đội nhân dân đăng lại, sáng 16/4 ông ra lệnh cho Trung đoàn 101 và Tiểu đoàn xe tăng – thiết giáp thuộc Lữ đoàn 203 xuất phát. Đội hình tiến công trong hành tiến, phá vỡ các vị trí trên tuyến Du Long – Ba Tháp.
Trời còn mù.
Xe tăng bật đèn pha tiến lên.
Máy bay A-37 và F-5 xuất hiện, tìm cách đánh chặn đội hình trên đường.
Một số xe tăng bị bom đánh trúng, có xe mất sức chiến đấu. Nhưng đội hình phía trước không dừng lại. Bộ binh bám theo xe tăng, đánh bật các vị trí cản đường rồi tiếp tục phát triển.
Sau khoảng hai giờ, mũi thọc sâu cùng lực lượng Sư đoàn 3 đã phá được tuyến chặn chủ yếu và tiến vào khu vực Phan Rang.
Đó chính là điều mà phương án tác chiến của Quân đoàn 2 hướng tới: không để đối phương có thời gian khép lại tuyến phòng thủ phía sau.
4. Phan Rang bị xuyên thủng
Đến khoảng 7 giờ sáng, lực lượng ta làm chủ thị xã Phan Rang.
Nhưng Nguyễn Hữu An hiểu rằng chiếm được thị xã mới chỉ là một phần của trận đánh.
Ở phía bắc vẫn còn sân bay Thành Sơn – căn cứ quan trọng của lực lượng phòng thủ. Tại đây có máy bay, pháo binh và sở chỉ huy tiền phương của đối phương.
Nếu để sân bay còn hoạt động, lực lượng đã thọc sâu vào Phan Rang có thể bị máy bay và pháo binh đánh từ phía sau.
Vì vậy, Quân đoàn 2 tiếp tục phát triển tiến công.
Một bộ phận đánh xuống cảng Tân Thành và Ninh Chữ. Các lực lượng khác tiếp tục theo Quốc lộ 1, đánh về phía nam và phối hợp với Sư đoàn 3 đánh sân bay Thành Sơn.
Khoảng 9 giờ 30 phút, sân bay Thành Sơn bị chiếm.
Gần 40 máy bay còn nguyên vẹn bị thu giữ.
Cùng ngày, Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi và nhiều sĩ quan chỉ huy tuyến phòng thủ Phan Rang bị bắt.
Tuyến phòng thủ từ xa đã bị phá vỡ chỉ trong một ngày tiến công chính diện và thọc sâu.
5. Người tư lệnh ở ngay trong đội hình
Một chi tiết đáng chú ý trong trận Phan Rang là cách Nguyễn Hữu An chỉ huy.
Ông không chỉ theo dõi trận đánh từ sở chỉ huy.
Theo hồi ức của chính ông được Báo Quân đội nhân dân ghi lại, buổi sáng 16/4 ông có mặt trong khối đi đầu. Khi mũi thọc sâu đã phá được tuyến Phan Rang, chiều hôm đó ông tự lái xe Gaz-66 quay lại hướng Nha Trang để kiểm tra và đốc chiến khối quân thứ hai đang tiếp tục hành quân.
Đường hành quân lúc ấy vẫn chưa hoàn toàn an toàn.
Ban đêm, chiếc xe của ông bị bộ binh bắn, vỡ lốp và phải tiếp tục chạy trong tình trạng chỉ còn ba bánh. Gần sáng, ông tới Ba Ngòi, nghe báo cáo rồi giao nhiệm vụ cho khối quân thứ hai tiếp tục thọc sâu về Rừng Lá trước khi quay lại với đội hình đi đầu.
Chi tiết ấy cho thấy đặc điểm của cuộc hành quân tháng 4/1975: sở chỉ huy không thể đứng yên phía sau.
Đội hình phải liên tục di chuyển.
Người chỉ huy phải biết tình hình ở phía trước để quyết định tốc độ và hướng phát triển của lực lượng.
6. Phan Rang mở đường cho cuộc hành quân tiếp tục
Sau khi Phan Rang và Thành Sơn thất thủ, tuyến phòng thủ duyên hải của đối phương bị phá vỡ.
Cánh quân Duyên Hải giải phóng Phan Rang và toàn tỉnh Ninh Thuận, bắt nhiều sĩ quan chỉ huy, thu hàng chục máy bay, pháo cùng nhiều phương tiện quân sự.
Nhưng trận đánh chưa phải điểm kết thúc của hành trình Quân đoàn 2.
Ngay trong ngày 16/4, Quân ủy Trung ương yêu cầu Quân đoàn 2 tiếp tục truy kích, phát triển tiến công thần tốc, nhanh chóng củng cố lực lượng và hành quân chiến đấu để kịp tham gia chiến dịch giải phóng Sài Gòn.
Ngày hôm sau, các đơn vị tiếp tục tiến về phía Nam.
Nguyễn Hữu An lại cùng đội hình chỉ huy cơ động.
Từ Phan Rang, Quân đoàn 2 tiếp tục đánh và hành quân qua Phan Thiết, rồi hướng về khu vực phía Đông Sài Gòn. Theo hồi ức của Nguyễn Hữu An, có những ngày đội hình đạt tốc độ khoảng 70km trong 24 giờ.
7. Một trận đánh và một cách đánh
Phan Rang có ý nghĩa lớn không chỉ vì một tuyến phòng thủ bị phá vỡ.
Nó còn cho thấy một cách sử dụng lực lượng phù hợp với tình hình cuối tháng 4/1975.
Thay vì dừng lại để lần lượt tiêu diệt từng vị trí, Quân đoàn 2 tổ chức một đội hình có khả năng vừa hành quân, vừa chiến đấu, dùng xe tăng làm lực lượng đột kích, bộ binh cơ giới bám theo, pháo binh và phòng không đi cùng.
Khi gặp lực lượng nhỏ, đội hình tiếp tục tiến.
Khi gặp điểm chặn mạnh, bộ binh xuống xe đánh thông đường rồi nhanh chóng lên xe tiếp tục phát triển.
Cách đánh này phù hợp với yêu cầu giữ tốc độ chiến dịch trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến.
Nguyễn Hữu An là người trực tiếp chỉ huy Quân đoàn 2 trong trận đánh ấy, nhưng chiến thắng Phan Rang là kết quả của cả Cánh quân Duyên Hải, trong đó có Sư đoàn 3 Quân khu 5, Sư đoàn 325, Lữ đoàn 203 và nhiều đơn vị pháo binh, phòng không, công binh cùng lực lượng địa phương.
Không thể tách riêng một người khỏi toàn bộ trận đánh.
Lời kết
Ngày 16/4/1975, Phan Rang từ một tuyến phòng thủ được xây dựng để ngăn bước tiến về phía Nam trở thành một trong những điểm đột phá quan trọng trên con đường tiến vào Sài Gòn.
Đối với Nguyễn Hữu An, trận đánh cho thấy rõ cách ông sử dụng một quân đoàn cơ động: đánh nhanh, đánh sâu, giữ đội hình liên tục chuyển động và không để đối phương có thời gian tái lập tuyến phòng thủ.
Buổi sáng, ông ở trong đội hình đi đầu.
Buổi chiều, ông quay lại kiểm tra khối quân phía sau.
Đêm xuống, chiếc xe chỉ huy bị bắn thủng lốp nhưng vẫn tiếp tục chạy.
Và khi Phan Rang vừa được giải phóng, mệnh lệnh tiếp theo đã tới: tiếp tục tiến về phía Sài Gòn.
Đối với Quân đoàn 2, Phan Rang vì thế không phải điểm dừng.
Nó là cánh cửa vừa được mở ra để đội hình tiếp tục cuộc hành quân cuối cùng.

