Bài viết

Nguyễn Hữu Kiến (1880 - 1954)

Đồng Tháp19/05/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ông Nguyễn Hữu Kiến sinh năm 1880, trong một gia đình nghèo ở xóm xép Cả Kích, làng Tân Thuận (nay là xã Tân Thuận Tây, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp).

Thuở nhỏ, ông cùng Nguyễn Quang Diệu theo học chữ Nho với thấy Tủ Tịnh, một thấy đó người miền Bắc rất giàu khí tiết. Ông giỏi chữ Nho và thông thạo Quốc ngữ, ham mê sách báo, tính tình trầm tĩnh và cương quyết, có tiếng là người con hiểu thảo trong gia đình.

Từ ảnh hưởng của thầy, nhờ bạn, ông sớm thấm nhuần tư tường cách mạng, tán thành chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Dật Tiên, hãng hải tham gia phong trào Đông Du và Minh Tân.

Ông cùng với Nguyễn Quang Diêu quan hệ với nhiều nhà yêu nước lúc bấy giờ, như Nguyễn Văn Điển (Châu Đốc), Lê Vân Đáng. Lê Vân Mỹ, Lê Vân Kỳ, Trần Vân Nhựt (Cao Lãnh). Ông hỏ hào thanh niên xuất dương, vận động những gia đình khá giả ủng hộ phong trào. Có lẽ , ông là một trong số ít người ở Nam Bộ có công hồ trợ Hồ Tá Bang trong việc xây dựng trường Dục Thanh ở Phan Thiết và cũng chính ông là người đã vận động một số thanh niên Cao Lãnh ra học ở trường này, trong đó có Nguyễn Văn Phùng (tức Từ Trường Phùng, con ông Bộ Nguyễn Văn Cây, một điền chủ ở Cao Lãnh).

Ông là người được Nguyễn Quang Diêu chọn tham gia phái đoàn 12 người sang Hồng Kông vào tháng 5/1913. Hơn một tuần sau khi đến Hồng Kông, hầu hết thành viên trong đoàn đều bị cảnh sát Anh bắt, giao cho mặt thám Pháp giải về nhà giam Hoá Lò (Hà Nội). Lợi dụng tình hình hồn loạn lúc cảnh sát Anh vây bắt nhiều người, ông giả dạng người Trung Quốc trồn thoát về nước, bí mật đền ẩn náu ở trại ruộng của Vô Chi ở Chắc Cà Đao (Long Xuyên).

Năm 1927, ông Nguyễn Quang Diêu, sau mười mấy năm tù đày, vượt ngục về nước tiếp tục hoạt động. Một lần nữa, Nguyễn Hữu Kiền

lại cùng Nguyễn Quang Diêu bôn ba khắp nơi vận động. Nhưng hoàn cảnh của ông khác với Nguyễn Quang Diêu, do từ lâu ông chịu ảnh hướng phong trào Minh Tân miền Nam, nên từ Chắc Cà Đao ông trở về quê nhà Tân Thuận Tây, mô hàng nước mắm tại vàm sông Cao Lãnh vào năm 1933. Đến năm 1937, ông mở trường dạy học ở vàm xép Cả Kích, môn sinh ông nhiều người thành đạt (như Bửu Đạt. Năm Thuật, Bảy Sơ), có người hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc (Mười An, Đặng Văn Khiết...).

Ngoài ra, ông còn coi mạch, hốt thuốc, trị bệnh cho dân và dịch sách thuốc từ chữ Hãn

ra chữ Việt để phổ biến kiến thức trị bệnh cho nhân dân.

Năm 1940, tình hình cách mạng sôi động với cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, thực dân Pháp đàn áp, khủng bỏ khắp nơi, quy chụp trường của ông có "vẫn để", ra lệnh đóng cửa tức khắc. Ông về Mỹ Tho sống với con gái làm nghề giáo, ngày 04 tháng 12 năm 1954, ông qua đời.

Mộ ông hiện nay ở đất Thánh Tây, Mỹ Tho. Tên ông được đặt cho một con đường từ Hòa An đền Tân Thuận Tây, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn