Anh hùng Lực lượng vũ trang

NGUYỄN HỮU QUANG – NGƯỜI CHỈ HUY CÔNG BINH TRÊN NHỮNG CÂY CẦU LỬA

Nguyễn Hữu Quang sinh năm 1943, quê xã Cát Hanh, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định, nhập ngũ tháng 9-1961. Trong quá trình chiến đấu, ông tham gia 54 trận, bản thân diệt 105 địch, bắt 2 tù binh, phá 18 xe quân sự, thu 16 súng; đồng thời chỉ huy đơn vị phá sập 7 cầu lớn và một đoàn tàu quân sự 13 toa. Những trận đánh cầu Phú Phong, Bà Lá, Bồng Sơn và Ông Diệu thể hiện rõ sự gan dạ, bình tĩnh và mưu trí của người cán bộ công binh. Ngày 15-2-1970, Nguyễn Hữu Quang được tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.

Gia Lai22/08/2026Xã Thạnh Mỹ Tây (Đoàn xã Thạnh Mỹ Tây)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Nguyễn Hữu Quang sinh năm 1943 tại xã Cát Hanh, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.

Ông lớn lên trong một gia đình có truyền thống cách mạng. Bố, mẹ và người em đều tham gia công tác cách mạng. Chứng kiến chiến tranh và cảnh đồng bào quê hương bị đàn áp, người thanh niên Nguyễn Hữu Quang sớm hình thành quyết tâm tham gia chiến đấu.

Tháng 9 năm 1961, khi khoảng 18 tuổi, ông nhập ngũ.

Từ đây, cuộc đời Nguyễn Hữu Quang gắn với một nhiệm vụ đặc biệt: công binh chiến đấu, trong đó có những trận phá cầu, đánh giao thông nhằm cắt đứt các tuyến vận chuyển quân sự quan trọng.

Đó là nhiệm vụ đòi hỏi nhiều kỹ năng.

Người lính không chỉ phải biết sử dụng thuốc nổ mà còn phải bơi lặn, trinh sát, nghiên cứu kết cấu cầu, nắm quy luật tuần tra và tìm cách vượt qua hệ thống bảo vệ để đưa khối nổ đến đúng vị trí.

Nguyễn Hữu Quang dần trở thành một cán bộ công binh nổi bật bởi sự bình tĩnh, gan dạ và mưu trí.

Trong quá trình chiến đấu, ông tham gia 54 trận. Theo tài liệu tuyên dương, bản thân Nguyễn Hữu Quang diệt 105 đối phương, trong đó có 29 lính Mỹ và 5 người được tài liệu xác định là ác ôn; bắt 2 tù binh, phá 18 xe quân sự và thu 16 súng.

Đặc biệt, ông còn chỉ huy đơn vị phá sập 7 cây cầu lớn và đánh một đoàn tàu quân sự gồm 13 toa.

Một trong những thử thách lớn đến vào năm 1965.

Đơn vị Nguyễn Hữu Quang được giao nhiệm vụ:

Đánh sập cầu Phú Phong và cắt đứt đường số 19 trong vòng 15 ngày.

Nhưng có một khó khăn rất lớn.

Phần lớn chiến sĩ trong đơn vị khi ấy còn là chiến sĩ mới.

Trong khi đó, cầu Phú Phong dài khoảng 120 mét và được một lực lượng tương đương 8 trung đội canh giữ.

Muốn tiếp cận mục tiêu, bộ đội công binh phải có khả năng hoạt động dưới nước.

Nguyễn Hữu Quang quyết định bắt đầu từ việc huấn luyện.

Ông tin rằng những chiến sĩ trẻ hoàn toàn có thể làm chủ kỹ thuật nếu được tổ chức và hướng dẫn đúng cách. Vì vậy, Nguyễn Hữu Quang tập trung huấn luyện kỹ thuật bơi, lặn và đánh cầu cho anh em.

Sau một thời gian ngắn, những chiến sĩ mới đã từng bước làm chủ kỹ thuật.

Kế hoạch tiến công được triển khai.

Các chiến sĩ bí mật tiếp cận cây cầu được bảo vệ nghiêm ngặt, đưa thuốc nổ vào vị trí.

Cầu Phú Phong bị đánh sập.

Nhưng đối phương lập tức tổ chức sửa chữa nhằm khôi phục đường số 19.

Nếu cây cầu được nối lại nhanh chóng, mục tiêu cắt đứt tuyến giao thông trong thời gian quy định sẽ không đạt được.

Nguyễn Hữu Quang suy nghĩ về lượng thuốc nổ còn lại.

Sau khi trao đổi và xin ý kiến tập thể, ông đưa ra một quyết định:

Đánh tiếp cầu Bà Lá.

Kế hoạch nhanh chóng được thực hiện.

Cầu Bà Lá tiếp tục bị đánh sập.

Nhờ hai trận đánh liên tiếp, đơn vị của Nguyễn Hữu Quang hoàn thành nhiệm vụ cắt đứt đường số 19, thậm chí vượt yêu cầu về thời gian được giao.

Hai năm sau, Nguyễn Hữu Quang bước vào một tình huống mà ranh giới giữa sống và chết chỉ tính bằng khoảnh khắc.

Năm 1967, ông trực tiếp đi điều tra cầu Bồng Sơn.

Nghiên cứu mục tiêu là một trong những khâu nguy hiểm nhất. Muốn xây dựng được phương án đánh cầu, người cán bộ phải tiếp cận rất gần để nắm chính xác hệ thống bảo vệ và đặc điểm địa hình.

Nguyễn Hữu Quang hoàn thành việc điều tra.

Nhưng trên đường trở ra, ông bị phát hiện.

Cuộc truy đuổi lập tức bắt đầu.

Trên bờ, lính đối phương chạy dọc theo sông.

Trên trời, máy bay trực thăng bắn pháo sáng.

Dưới mặt nước, ca nô lao tới, liên tục ném lựu đạn nhằm buộc ông phải nổi lên.

Nguyễn Hữu Quang lặn xuống nước tìm đường thoát.

Một chiếc ca nô áp sát.

Những người trên ca nô tìm cách kéo ông lên để bắt sống.

Nguyễn Hữu Quang quyết không để mình bị bắt.

Ông rút súng ngắn, bắn một người trên ca nô, rồi lập tức lặn xuống.

Cuộc truy đuổi vẫn chưa kết thúc.

Ca nô tiếp tục bám theo, vừa bắn vừa ném lựu đạn xuống nước.

Nguyễn Hữu Quang vừa tìm cách tránh đạn, vừa lựa chọn thời điểm thoát khỏi vòng vây.

Một chiếc ca nô lại tiến gần.

Ông bình tĩnh chờ.

Khi khoảng cách đủ gần, Nguyễn Hữu Quang nổ ba phát súng ngắn, bắn thêm một người.

Trong lúc lực lượng trên ca nô bị phân tán, ông nhanh chóng lặn vào bờ.

Lên được bờ chưa có nghĩa là đã an toàn.

Nguyễn Hữu Quang lấy rơm phủ lên người để ngụy trang.

Nhưng những tiếng nổ dưới nước trước đó đã khiến ông bị ảnh hưởng nặng bởi sức ép.

Ông ngất đi.

Khi tỉnh lại, Nguyễn Hữu Quang nhận ra hai mắt không thể mở được.

Ông vẫn cố tìm đường trở về.

Trong tình trạng gần như không nhìn thấy, ông lại không may sa vào một hố chông, khiến chân bị thương.

Hết sức ép của lựu đạn, thương tích ở chân rồi vòng vây của đối phương, tất cả đều có thể khiến người chiến sĩ bỏ cuộc.

Nhưng Nguyễn Hữu Quang vẫn tiếp tục.

Từng bước, ông tìm đường.

Cuối cùng, người cán bộ công binh trở về được với đơn vị.

Một năm sau, ông lại nhận nhiệm vụ mới.

Năm 1968, đơn vị được giao đánh cầu Ông Diệu để mở màn cho một chiến dịch.

Lần này, thời gian chuẩn bị chỉ có:

Một đêm.

Không có nhiều thời gian cho việc điều tra kéo dài.

Nguyễn Hữu Quang quyết định tự mình vào tận mục tiêu nghiên cứu địa hình.

Sau khi nắm tình hình, ông nhanh chóng xây dựng phương án tác chiến và tổ chức lực lượng thực hiện nhiệm vụ.

Trận đánh thành công.

Cầu Ông Diệu bị đánh sập, trung đội bảo an bảo vệ khu vực bị tiêu diệt, góp phần mở màn chiến dịch theo đúng kế hoạch.

Qua những trận đánh ấy, Nguyễn Hữu Quang không chỉ chứng tỏ khả năng chiến đấu cá nhân mà còn trưởng thành rõ rệt trong vai trò người chỉ huy.

Từ người thanh niên Bình Định nhập ngũ năm 1961, ông trở thành Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 90 công binh, Sư đoàn 3.

Trong đơn vị, Nguyễn Hữu Quang được ghi nhận là người cán bộ gương mẫu, có ý thức tổ chức kỷ luật, khiêm tốn học hỏi và luôn sẵn sàng có mặt tại những nơi khó khăn, nguy hiểm.

Ông nhiều lần được bầu là Chiến sĩ thi đua, nhận 2 giấy khen, 4 bằng khen, cùng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhì và 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba.

Ngày 15 tháng 2 năm 1970, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng Nguyễn Hữu Quang danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.

Trong hành trình 54 trận chiến đấu của Nguyễn Hữu Quang, những cây cầu Phú Phong, Bà Lá, Bồng Sơn và Ông Diệu trở thành những dấu mốc đặc biệt. Từ việc huấn luyện những chiến sĩ mới để phá cây cầu dài 120 mét, đến cuộc thoát vây trên sông Bồng Sơn giữa ca nô, trực thăng và lựu đạn, câu chuyện của ông ghi lại hình ảnh một người cán bộ công binh luôn đặt sự chuẩn bị kỹ lưỡng, lòng gan dạ và khả năng ứng biến ở trung tâm của mỗi nhiệm vụ.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn