Nguyễn Hữu Thọ
1. Thời kỳ đầu và hoạt động trí thức (1910–1954)
Học vấn: Sinh tại Long An, ông sang Pháp du học năm 11 tuổi và tốt nghiệp Cử nhân Luật hạng ưu tại Đại học Aix-en-Provence năm 1932. [1]Hành nghề và đấu tranh: Trở về nước năm 1933, ông làm luật sư nổi tiếng ở miền Tây, thường xuyên bào chữa cho người nghèo và những người tham gia cách mạng. Năm 1947, ông tổ chức trí thức Sài Gòn ký tuyên ngôn đòi Pháp đàm phán với Việt Minh. [1, 2]Bị bắt giam: Năm 1949, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Vì hoạt động cách mạng, ông bị thực dân Pháp rồi sau đó là chính quyền Ngô Đình Diệm bắt giam, đày đi nhiều nhà lao (Sơn Tây, Phú Yên) từ năm 1950 đến 1961. [1]2. Sự nghiệp trong kháng chiến chống Mỹ (1961–1975)Cuối năm 1961, ông được lực lượng cách mạng giải thoát thành công về Chiến khu Bắc Tây Ninh.Khi Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam thành lập (1960), ông được bầu làm Chủ tịch.Từ năm 1969, ông đảm nhiệm chức vụ Chủ tịch Hội đồng cố vấn Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, góp phần tập hợp khối đại đoàn kết dân tộc. [1, 2]3. Đóng góp trong giai đoạn thống nhất đất nước (1976–1996)Phó Chủ tịch nước: Được bầu làm Phó Chủ tịch nước Việt Nam thống nhất (1976).Quyền Chủ tịch nước: Đảm nhận Quyền Chủ tịch nước Việt Nam (1980–1981) sau khi Chủ tịch Tôn Đức Thắng qua đời.Lãnh đạo Quốc hội và Mặt trận: Giữ chức Chủ tịch Quốc hội (1981–1987) và Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1988–1994).Vinh danh: Với những cống hiến to lớn, ông được Đảng và Nhà nước trao tặng Huân chương Sao Vàng (1993). [1, 2]



