NGUYỄN HUY HIỆU – NGƯỜI CHỈ HUY TRƯỞNG THÀNH TỪ LỬA ĐẠN TRỊ – THIÊN
Nguyễn Huy Hiệu sinh năm 1947, dân tộc Kinh, quê xã Hải Long, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Hà, nhập ngũ tháng 2-1965. Từ một người chiến sĩ, ông trưởng thành qua chiến đấu trở thành cán bộ trung đoàn. Trong giai đoạn 1968–1972 tại chiến trường Trị – Thiên, ông tham gia 60 trận, trực tiếp diệt 60 đối phương, phá hủy 18 súng các loại; chỉ huy đơn vị diệt trên 2.000 đối phương, bắt sống hàng trăm người và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh. Ba lần bị thương nhưng không rời trận địa, ông vẫn tiếp tục chỉ huy chiến đấu. Ngày 20-12-1973, Nguyễn Huy Hiệu được tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Năm 1965, Nguyễn Huy Hiệu nhập ngũ khi mới 18 tuổi.
Ba năm sau, người thanh niên quê Hải Hậu bước vào chiến trường Trị – Thiên.
Từ đây bắt đầu một chặng đường chiến đấu kéo dài nhiều năm, đưa ông từ một người chiến sĩ trở thành cán bộ chỉ huy.
Trong những năm ấy, có một phẩm chất nổi bật ở Nguyễn Huy Hiệu:
Càng ở thời điểm khó khăn, người chỉ huy càng phải có mặt ở nơi quyết liệt nhất.
ĐỒI ĐỘC LẬP – BỊ THƯƠNG VẪN DẪN ĐẦU XUNG PHONG
Năm 1968, tại đồi Độc Lập, Quảng Trị, Nguyễn Huy Hiệu chỉ huy một trung đội tiến công một trung đội thám báo Mỹ giữa ban ngày.
Trận đánh diễn ra quyết liệt.
Chỉ sau khoảng 15 phút, đơn vị của ông đã đánh thiệt hại nặng lực lượng đối phương.
Trước tình thế đó, phía Mỹ vội đưa thêm hai trung đội xuống khu vực đồi bên cạnh để chi viện.
Một lực lượng mới xuất hiện.
Một trận đánh mới lại bắt đầu.
Đúng lúc ấy, Nguyễn Huy Hiệu bị thương ở tay trái.
Máu chảy nhiều.
Nhưng ông không rời trận địa.
Thay vì lui về phía sau, Nguyễn Huy Hiệu tiếp tục dẫn đầu trung đội, nhanh chóng áp sát lực lượng vừa được đưa tới.
Ông tổ chức chia cắt đội hình đối phương, không để chúng tập hợp lực lượng.
Trung đội tiếp tục xung phong.
Kết quả, đơn vị tiêu diệt hai trung đội Mỹ, thu 5 khẩu súng.
Riêng Nguyễn Huy Hiệu được ghi nhận diệt 7 đối phương.
Vết thương đầu tiên không thể khiến người chỉ huy trẻ rời khỏi đội hình chiến đấu.
NĂM ĐÊM TRINH SÁT TÂN KIM
Hai năm sau, Nguyễn Huy Hiệu lại đứng trước một nhiệm vụ khó khăn hơn.
Ngày 5-4-1970, đơn vị chuẩn bị đánh một cụm bộ binh cơ giới tại Tân Kim, Quảng Trị.
Muốn đánh thắng, trước hết phải biết chính xác đối phương bố trí như thế nào.
Nguyễn Huy Hiệu trực tiếp đi trinh sát.
Một đêm.
Hai đêm.
Ba đêm...
Ông liên tục tiếp cận mục tiêu trong 5 đêm.
Đến đêm thứ năm, Nguyễn Huy Hiệu bị thương.
Nhưng một lần nữa, ông không dừng nhiệm vụ.
Những thông tin thu được qua nhiều đêm trinh sát trở thành cơ sở để tổ chức trận đánh.
Khi nổ súng, Nguyễn Huy Hiệu dẫn đầu đại đội xông lên, đánh vào giữa đội hình đối phương.
Mục tiêu của ông rất rõ:
Chia cắt đội hình thành từng bộ phận rồi lần lượt tiêu diệt.
Sau khoảng 30 phút chiến đấu, đại đội của Nguyễn Huy Hiệu tiêu diệt một đại đội Mỹ và phá hủy 10 xe tăng, xe bọc thép.
Riêng ông được ghi nhận diệt 10 đối phương.
ĐỢI 28 CHIẾC XE LỌT HẲN VÀO TRẬN ĐỊA
Ngày 19-3-1971, trong Chiến dịch Đường số 9 – Nam Lào, Nguyễn Huy Hiệu tham gia một trận phục kích đoàn xe trên Đường số 9.
Đây là cuộc đấu trí không chỉ bằng hỏa lực mà còn bằng sự kiên nhẫn của người chỉ huy.
Máy bay và pháo binh đối phương liên tục đánh phá khu vực.
Đoàn xe đang tiến đến.
Nếu nổ súng quá sớm, đoàn xe có thể dừng lại hoặc quay đầu.
Nguyễn Huy Hiệu quyết định:
Chờ.
Phải chờ cho đoàn xe lọt sâu vào trận địa.
Giữa tiếng bom và pháo, lực lượng phục kích vẫn giữ bí mật.
Đến thời điểm thuận lợi—
Nguyễn Huy Hiệu dẫn đầu mũi chủ yếu của tiểu đoàn đánh thẳng vào giữa đoàn xe.
Đội hình đối phương bị chia cắt.
Các lực lượng của tiểu đoàn đồng loạt xuất kích.
Kết thúc trận đánh, đơn vị tiêu diệt đoàn xe 28 chiếc và gần một trăm đối phương.
Một lần nữa, dấu ấn của Nguyễn Huy Hiệu không chỉ nằm ở lòng dũng cảm, mà còn ở khả năng lựa chọn thời cơ và tổ chức trận đánh.
QUẢNG TRỊ 1972 – TỪ NGƯỜI XUNG PHONG THÀNH NGƯỜI CHỈ HUY
Đến năm 1972, Nguyễn Huy Hiệu đã trưởng thành qua nhiều cương vị.
Từ ngày 30-3 đến 2-4-1972, ông chỉ huy một tiểu đoàn đảm nhiệm hướng tiến công chủ yếu của trung đoàn tại các khu vực điểm cao 288, 241 và 544 ở Quảng Trị.
Đây không còn là nhiệm vụ của một chiến sĩ hay một cán bộ trực tiếp chỉ huy một mũi nhỏ.
Trên vai Nguyễn Huy Hiệu lúc này là cả một tiểu đoàn.
Máy bay và pháo binh đối phương liên tục đánh phá.
Các lực lượng phải chiến đấu trong điều kiện hiệp đồng phức tạp.
Giữa chiến trường ấy, Nguyễn Huy Hiệu giữ vững chỉ huy, tổ chức đơn vị phối hợp chặt chẽ với các lực lượng bạn.
Kết quả, tiểu đoàn do ông chỉ huy đánh thiệt hại nặng ba tiểu đoàn đối phương, bắt 158 người, hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Đó cũng là hình ảnh cho thấy sự trưởng thành của Nguyễn Huy Hiệu:
Từ người lính trực tiếp cầm súng xung phong năm 1968...
đến người cán bộ đủ năng lực tổ chức, chỉ huy một tiểu đoàn chiến đấu hiệp đồng vào năm 1972.
60 TRẬN VÀ BA LẦN BỊ THƯƠNG
Trong khoảng thời gian từ năm 1968 đến tháng 6-1972, Nguyễn Huy Hiệu được ghi nhận tham gia 60 trận chiến đấu.
Riêng ông:
Diệt 60 đối phương
Phá hủy 18 súng các loại
Ba lần bị thương nhưng không rời trận địa
Các đơn vị do ông chỉ huy được ghi nhận diệt trên 2.000 đối phương, trong đó có khoảng 500 lính Mỹ, đồng thời bắt sống nhiều người và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh.
Nhưng phía sau những con số ấy là một quá trình trưởng thành đặc biệt.
Nguyễn Huy Hiệu không bước vào chiến trường với tư cách một cán bộ trung đoàn.
Ông bắt đầu từ người chiến sĩ.
Qua từng trận đánh, từng lần trinh sát, từng lần bị thương và từng nhiệm vụ chỉ huy, ông từng bước trưởng thành.
Điều ấy lý giải vì sao ông luôn chú trọng học tập, rút kinh nghiệm, nâng cao năng lực tổ chức và chỉ huy, đồng thời giữ lối sống giản dị, gần gũi và học hỏi đồng đội.
DẤU ẤN NGƯỜI ANH HÙNG
Với những thành tích trong chiến đấu, Nguyễn Huy Hiệu được tặng:
🏅 2 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhì
🏅 2 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Ba
🏅 2 lần danh hiệu Chiến sĩ thi đua
🏅 4 lần danh hiệu Dũng sĩ
Ngày 20-12-1973, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng Nguyễn Huy Hiệu danh hiệu:
ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN GIẢI PHÓNG
Nếu chọn một hình ảnh để khắc họa chặng đường ấy, có lẽ đó là hình ảnh người chỉ huy bị thương nhưng vẫn đứng lại giữa trận địa.
Ở đồi Độc Lập, bị thương ở tay trái, ông vẫn dẫn đầu đơn vị tiến công.
Ở Tân Kim, bị thương trong đêm trinh sát thứ năm, ông vẫn tiếp tục nhiệm vụ.
Trên Đường số 9, giữa bom pháo, ông vẫn bình tĩnh chờ đoàn xe lọt hẳn vào trận địa mới ra lệnh tiến công.
Và tại Quảng Trị năm 1972, người chiến sĩ năm nào đã trưởng thành thành một cán bộ chỉ huy tiểu đoàn trên hướng chiến đấu chủ yếu.
Từ người lính trẻ 18 tuổi đến cán bộ trung đoàn, Nguyễn Huy Hiệu trưởng thành ngay giữa chiến trường. Dấu ấn xuyên suốt của ông là bản lĩnh của người chỉ huy: bình tĩnh trước hiểm nguy, có mặt ở nơi khó khăn và ba lần bị thương vẫn không rời trận địa.



