NGUYỄN HUY TRƯỜNG - ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN, “ÔNG VUA MÌN ĐƯỜNG 5”
Nguyễn Vũ Hà Linh

Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Huy Trường sinh năm 1932, quê xã Kim Anh, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương; thường trú tại số nhà 229, đường Trường Chinh, phường Lãm Hà, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng. Đồng chí nguyên là Đội trưởng Đội Giao thông chiến S20, Tỉnh đội Hải Dương.
Người chiến sĩ trẻ trên những tuyến đường sắt
Năm 17 tuổi, Nguyễn Huy Trường gia nhập bộ đội, tham gia kháng chiến. Trong thời gian ở đơn vị bộ đội huyện Kim Thành, đồng chí trực tiếp tham gia 4 trận đánh trên tuyến đường sắt Kim Thành, phá hủy 3 đầu tàu, 25 toa xe và 1 xe goòng.
Tiêu biểu là trận đánh xe lửa trên đường 5 ngày 2/3/1951 và trận đánh bằng mìn điện tự động trên đường sắt Kim Thành ngày 28/12/1951. Các trận đánh đã phá hủy đoàn tàu 18 toa chở vũ khí của địch, tiêu diệt đầu tàu cùng 18 toa chở lương thực, vũ khí.
Sau những chiến công đó, đồng chí được kết nạp Đảng, được cử đi dự Đại hội Chiến sĩ thi đua toàn quốc và được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng danh hiệu “Chiến sĩ toàn quốc”.
Chỉ huy Đội Giao thông chiến S20
Đầu năm 1953, Nguyễn Huy Trường được Tỉnh đội Hải Dương điều về làm Đội phó Đội Giao thông S20, trực thuộc Ban Tham mưu Tỉnh đội Hải Dương. Tháng 6/1953, đồng chí được giao làm Đội trưởng Đội S20.
Trên cương vị người chỉ huy, đồng chí trực tiếp tổ chức và chỉ huy lực lượng đánh địch trên các tuyến đường số 5, đường 17, đường 20 và đường số 9 (Ninh Giang - An Thổ), lập nhiều chiến công.
Trong đó, tiêu biểu là trận phối hợp tác chiến giữa Đại đội 75 của tỉnh và S20 ngày 21/5/1953, cùng trận đánh Cầu Bía ngày 14/6/1953. Sau hai trận đánh, quân ta phá hủy 6 xe địch, trong đó có 3 xe tăng; đồng thời đánh trúng chiếc xe tăng đi đầu, góp phần ngăn chặn âm mưu hành quân càn quét của địch vào vùng căn cứ.
Mưu trí, sáng tạo trong Chiến dịch Điện Biên Phủ
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đặc biệt trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, Nguyễn Huy Trường cùng đồng đội tiếp tục tổ chức nhiều trận đánh trên tuyến giao thông chiến lược của địch.
Đồng chí đã tham gia chỉ huy và tổ chức đánh phá, phá hủy 17 đầu tàu, 85 toa xe, làm gián đoạn tuyến đường sắt, gây khó khăn cho hoạt động vận tải của địch.
Tiêu biểu, ngày 6/4/1954, trên đoạn đường Đồng Liên - Cao Xá, trong một ngày lực lượng của đồng chí đã lật đổ 2 đoàn tàu, phá hủy 1 xe tăng và 1 xe díp chở 2 sĩ quan địch đến quan sát trận địa.
Đêm 2/5/1954, cũng tại khu vực này, bằng kế nghi binh, đồng chí tổ chức đánh mìn trúng 3 toa tàu chở lính địch, làm chết và bị thương 120 tên.
Không chỉ trực tiếp chiến đấu, Nguyễn Huy Trường còn nghiên cứu, đề xuất nhiều phương pháp đánh địch hiệu quả như “mìn điện tự động”, “mìn ngõng có cột chống” và “hố không mìn”. Những sáng kiến này được áp dụng trong các trận đánh trên đường 17 đêm 21/6/1953 và trên đường 20 ngày 22/7/1953.
Với những chiến công trong chiến đấu và những sáng kiến trong nghiên cứu, chế tạo, sử dụng các loại mìn phục vụ tác chiến, đồng chí được suy tôn là một trong những “Ông vua mìn đường 5” xuất sắc của Liên khu 3.
Tấm gương người chiến sĩ Bộ đội Cụ Hồ
Trong kháng chiến chống Mỹ cũng như trong thời kỳ đổi mới, trên các cương vị công tác khác nhau, đồng chí Nguyễn Huy Trường tiếp tục phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, tích cực học tập, công tác, góp phần cùng quân và dân thành phố Hải Phòng thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Với những thành tích xuất sắc, đồng chí được Đảng và Nhà nước tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công hạng Nhất, 1 Huân chương Chiến công hạng Ba, 1 Huân chương Chiến thắng hạng Ba và 1 Huân chương Kháng chiến hạng Nhất.
Đặc biệt, ngày 25/4/2015, theo Quyết định số 772-QĐ/CTN, đồng chí Nguyễn Huy Trường vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Cuộc đời chiến đấu và công tác của đồng chí Nguyễn Huy Trường là tấm gương tiêu biểu về lòng dũng cảm, tinh thần mưu trí, sáng tạo và ý chí quyết tâm vượt qua khó khăn, góp phần làm nên những chiến công trên các tuyến giao thông chiến lược, đặc biệt là tuyến đường 5, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.


