Bài viết

NGUYỄN HUY TƯỞNG

12/08/2026Đặc khu Lý Sơn (Đoàn Đặc khu Lý Sơn)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Cách đây 66 năm trước, ngày 25/7/1960, nhà văn, nhà viết kịch tài hoa Nguyễn Huy Tưởng từ trần sau một thời gian lâm bạo bệnh ở tuổi 48. Ghi nhận những đóng góp to lớn cho nền kịch và văn học nước nhà, năm 1996, Nhà nước đã truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh cao quý cho nhà văn, nhà viết kịch Nguyễn Huy Tưởng. Ngày nay, tên ông được đặt cho những con đường tại một số tỉnh thành trên cả nước, trong đó có Hải Phòng. Dù đã đi xa từ lâu, nhưng gia tài văn chương đồ sộ của ông tiếp nối hành trình lay động lòng người, soi sáng cho các thế hệ cầm bút hôm nay.

Đối với Hải Phòng, nơi đây không chỉ gắn liền với quãng thời gian lớn lên trưởng thành mà còn là những năm tháng hoạt động cách mạng cũng như khởi đầu sự nghiệp văn chương với tuổi trẻ đầy nhiệt huyết khao khát cống hiến của Nguyễn Huy Tưởng. Năm lên 7 tuổi, sau khi cha mất, người mẹ - bà Đỗ Thị Điều, là bậc hiền mẫu nức tiếng trong vùng đã gửi ông xuống thành phố Cảng sống cùng gia đình người chị và sau này học tại Trường Bonnal (nay là Trường THPT Ngô Quyền). Giữa những ngã rẽ của cuộc đời, Nguyễn Huy Tưởng đã xác định rõ con đường đi của mình bằng tuyên ngôn rất dứt khoát: "Phận sự một người tầm thường như tôi muốn tỏ lòng yêu nước thì chỉ có việc viết văn quốc ngữ thôi". Từ đó, mối cơ duyên với văn chương nảy nở bén rễ trong tâm tư suy nghĩ của ông. Văn chương đã trở thành công cụ, phương tiện, động lực hữu hiệu trong việc tuyên truyền đấu tranh, cổ vũ cách mạng. Khi bước chân vào con đường văn học, ông lấy hiệu là Điều Tử (con của mẹ Điều). Từ năm 1930, ông tích cực tham gia các hoạt động yêu nước của thanh niên học sinh trong thành phố. Đến năm 20 tuổi (1932), ông đậu bằng Thành Chung và dần học chữ Hán.

Ra trường, sau ba năm vất vả tìm việc, đến năm 1935, ông thi đậu vào ngạch thư ký sở nhà Đoan (Thuế quan). Dù sống cuộc sống công chức nhà Đoan, nhưng Nguyễn Huy Tưởng có một đời sống nội tâm phong phú. Ông chăm đọc sách, chịu khó tìm ý tưởng, hàng ngày viết nhật ký. Sau này khi lý giải cho câu hỏi tại sao ông viết nhật ký, chính Nguyễn Huy Tưởng đã viết: "Phàm kẻ học trò nên tập cách viết nhật ký. Nhật ký là cuốn sách chân thật hơn cả mọi các sách mà cũng rộng rãi tự nhiên hơn các sách khác". Những trang nhật ký của ông phần nào phác họa chân thực một thế hệ nhà văn thời tiền chiến, những trang sử quý giá về những hoạt động cách mạng và yêu nước trước Cách mạng tháng Tám của trí thức tiểu tư sản thành thị. Năm 1938, ông tham gia Hội Truyền bá Quốc ngữ và phong trào hướng đạo sinh Hải Phòng; hàng ngày, từ sáng sớm tinh mơ, ông đã xuống ngõ phố và các xóm thợ dạy dân lao động học chữ quốc ngữ. Một năm sau, ông cưới người vợ là con của một vị quan nức tiếng trong thành phố. Đến năm 1942, ông gia nhập Hội Văn hóa cứu quốc và được bầu làm Tổng thư ký Hội Truyền bá Quốc ngữ Hải Phòng, trở thành một trong những người lãnh đạo chủ chốt của Hội. Ông tiếp tục hoạt động tại Hải Phòng trong thời gian ngắn trước khi chuyển lên Hà Nội công tác vào tháng 4/1944 và hoạt động tại một số tỉnh thành khác cho đến khi Cách mạng Tháng Tám thành công. Sau này, ông trải qua nhiều cương vị khác nhau như Đại biểu Quốc hội khóa I, Phó Thư ký Hội Văn hóa cứu quốc, Hội viên sáng lập và là Ủy viên BCH Hội Nhà văn Việt Nam, người sáng lập và Giám đốc đầu tiên của Nhà Xuất bản Kim Đồng.

Chí bình sinh, Nguyễn Huy Tưởng từng viết: "Người không biết lịch sử nước mình là con trâu đi cày ruộng; cày với ai cũng được, mà cày ruộng nào cũng được". Ý thức sâu sắc trên được ông gửi gắm vào một loạt các tác phẩm về đề tài lịch sử trung đại Việt Nam, mang giá trị vượt thời gian như: Bắc Sơn, Kể chuyện Quang Trung, Lá cờ thêu sáu chữ vàng. Ông là cây bút đặc sắc cho thiếu nhi với nhiều truyện cổ tích, truyện lịch sử, là một trong những người đặt nền móng cho nền văn học thiếu nhi dưới chế độ mới. Trong các trang văn của Nguyễn Huy Tưởng luôn chất chứa đầy chất thơ của cuộc sống, cùng với đó là những bài ca về tình yêu thương con người, đồng loại. Mỗi trang sách của ông trong nhà trường phổ thông đã đánh thức trái tim và suy nghĩ của học sinh về truyền thống lịch sử của cha ông, sức sống của toàn dân tộc, mang tới bài học nhận thức và ứng xử trong nhiều mối quan hệ của con người như tình cảm gia đình, tình anh em và tình bạn. Ông khẳng định một điều: Người Việt Nam dưới ngòi bút ông dù ở bất cứ thời nào cũng cùng một tâm hồn yêu nước, bất khuất, kiên cường và một phong thái hào hoa, thanh lịch.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn