Nguyễn Khắc Nhu - nhà vận động cách mạng thời cận đại
Trong dòng chảy lịch sử cận đại, dân tộc Việt Nam đã sản sinh nhiều chí sĩ kiên cường, dám hy sinh vì độc lập tự do. Trong số ấy, Nguyễn Khắc Nhu là một gương mặt tiêu biểu – người đã hiến trọn cuộc đời cho lý tưởng cứu nước và góp phần quan trọng vào phong trào đấu tranh trước năm 1930
Nguyễn Khắc Nhu sinh năm 1882 tại phường Song Khê, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang (nay thuộc phường Tiền Phong, Bắc Ninh). Ông xuất thân trong một gia đình Nho học và mồ côi cha từ khi mới 13 tuổi. Thuở nhỏ theo đuổi con đường khoa cử, và vào năm 1912, khi thi khảo hạch để thi Hương, ông xếp hạng nhất toàn trấn Kinh Bắc, được gọi là Đầu xứ Nhu hay Xứ Nhu.
Hoạt động yêu nước của ông bắt đầu từ rất sớm. Năm 1903, ông dẫn đường cho Phan Bội Châu lên đồn Phồn Xương gặp Đề Thám. Sau nhiều lần thi Hương không thành, ông trở về quê dạy học, tham gia phong trào Đông Du, lập Hội Quốc dân dục tài theo tinh thần Đông Kinh Nghĩa Thục và tiến hành nhiều cải cách ở địa phương, dù đều bị thực dân Pháp cấm đoán.
Năm 1907, ông làm trưởng đoàn đưa 17 thanh niên lên đường tham gia phong trào Đông Du. Khi phong trào tan rã và thực dân Pháp khủng bố các nhà chí sĩ, ông sang Trung Quốc tìm đường hoạt động nhưng không gặp được phái viên của Phan Bội Châu nên quay lại Việt Nam.
Từ 1908 đến 1922, Nguyễn Khắc Nhu làm tổng sứ tại Thịnh Liệt rồi Lạc Gián, tiếp tục tìm kiếm lực lượng đồng chí. Sau khi thôi dạy học, ông về quê làm thầy lang và khởi xướng nhiều cải cách xã hội như đào giếng lấy nước sạch, dạy nghề dệt khăn, vận động bỏ hủ tục, viết báo cổ động cải cách.
Năm 1926, ông liên lạc với Phan Bội Châu đang bị giam lỏng và vận động thành lập Hội Quốc Dân Dục Tài nhưng không được phép hoạt động. Đến năm 1927, ông lập hội Việt Nam Dân Quốc với chủ trương khởi nghĩa vũ trang ở Đáp Cầu, Bắc Ninh, Phả Lại, nhưng kế hoạch phải hoãn vì sự cố nổ bom. Năm 1928, ông sáp nhập tổ chức vào Việt Nam Quốc dân đảng và giữ vai trò Trưởng ban Lập pháp, Giám sát.
Sau vụ ám sát Bazin năm 1929, thực dân Pháp khủng bố mạnh mẽ. Ông cùng Nguyễn Thái Học rút vào hoạt động bí mật và bị kết án vắng mặt 10 năm cấm cố. Trước nguy cơ tan rã, Việt Nam Quốc dân đảng quyết định phát động khởi
nghĩa theo tinh thần “Không thành công thì thành nhân”, và Nguyễn Khắc Nhu được giao lãnh đạo khởi nghĩa ở Yên Bái, Phú Thọ, Sơn Tây. Tuy nhiên, do thiếu chuẩn bị và không đồng loạt nổ dậy, cuộc khởi nghĩa thất bại.
Ngày 9-2-1930, ông chỉ huy đánh đồn Hưng Hóa và phủ lị Lâm Thao. Khi quân Pháp phản công, ông bị thương. Ông dùng lựu đạn tự sát nhưng không chết, bị bắt và trên đường giải về trại giam, ông nhảy xuống sông tự trầm nhưng lại bị kéo lên. Ngày 11-2-1930, ông đập đầu vào tường nhà giam để giữ trọn khí tiết, hưởng dương 49 tuổi.
Về mặt sáng tác, ông viết nhiều bài báo cải cách đăng trên An Nam tạp chí, Thực nghiệp dân báo và có sáng tác thơ, trong đó có bài Tiễn bạn.
Công lao của ông được Nhà nước ghi nhận. Ngày 8-2-1961, Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký tặng Bằng Tổ quốc ghi công, công nhận ông là liệt sĩ cách mạng. Tên ông được đặt cho nhiều đường phố tại Hà Nội, TP.HCM, Bắc Giang, Đà Nẵng, An Giang, Yên Bái… Tượng đài và trường học tại quê hương Song Khê cũng vinh danh ông.
Sự hy sinh của Nguyễn Khắc Nhu là minh chứng cho tinh thần bất khuất và lòng yêu nước cháy bỏng của các chí sĩ đầu thế kỷ XX. Dù cuộc khởi nghĩa thất bại, tấm gương sống – chết vì độc lập dân tộc của ông vẫn được hậu thế trân trọng và biết ơn sâu sắc.


