Anh hùng Lao động

Nguyễn Kiều Loan

Phạm Tuân (sinh ngày 14 tháng 2 năm 1947 tại Thái Bình) là một phi công, phi hành gia người Việt Nam, Tướng lĩnh Quân đội nhân dân Việt Nam, hàm Trung tướng Không quân. Ông là người Việt Nam và châu Á đầu tiên bay lên vũ trụ[3] vào năm 1980 trong chương trình Interkosmos của Liên Xô.[4][5][6] Ông cũng là người Việt Nam đầu tiên được phong danh hiệu Anh hùng 3 lần, bởi 2 Quốc gia khác nhau: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, Anh hùng Lao động, Anh hùng Liên Xô.[1][2] Trong Quân đội,

Ninh Bình21/04/2026Nguyễn Kiều Loan (Đoàn Phường Lý Thường Kiệt)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Phạm Tuân (sinh ngày 14 tháng 2 năm 1947) là một trong những gương mặt tiêu biểu của Việt Nam trong thế kỷ XX, hội tụ đầy đủ phẩm chất của một người chiến sĩ dũng cảm và một nhà khoa học tiên phong.

Ông sinh ra tại xã Quốc Tuấn, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình – một vùng quê giàu truyền thống yêu nước và cách mạng. Tuổi thơ của ông gắn liền với những năm tháng chiến tranh ác liệt, chính hoàn cảnh ấy đã hun đúc trong ông lòng yêu nước sâu sắc, ý chí kiên cường và khát vọng cống hiến cho Tổ quốc. Năm 1965, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ đang diễn ra quyết liệt, ông gia nhập Không quân nhân dân Việt Nam và được đào tạo trở thành phi công chiến đấu. Nhờ sự nỗ lực không ngừng, ông nhanh chóng trưởng thành, trở thành một trong những phi công xuất sắc của lực lượng không quân. Trong những năm chiến đấu, Phạm Tuân đã lập nhiều chiến công nổi bật, đặc biệt là vào tháng 12 năm 1972 trong Chiến dịch Điện Biên Phủ trên không. Ông đã điều khiển máy bay MiG-21 và bắn rơi một máy bay B-52 – loại máy bay chiến lược hiện đại bậc nhất của Mỹ lúc bấy giờ. Đây là chiến công có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần làm nên chiến thắng vang dội của quân và dân ta, bảo vệ vững chắc bầu trời miền Bắc.

Vào đêm ngày 27 tháng 12 năm 1972, theo tài liệu lịch sử không chính thức của Quân đội nhân dân Việt Nam, ông bắn rơi 1 máy bay B-52 của Mỹ, trở thành người đầu tiên bắn hạ được loại máy bay này từ trên không và trở về an toàn, nếu không kể 1 phi công khác tên là Vũ Đình Rạng đã bắn trúng máy bay B-52 của không quân Mỹ vào ngày 20 tháng 11 năm 1971 (tuy nhiên Vũ Đình Rạng chỉ phóng 1 tên lửa nên chiếc B-52 không rơi ngay tại chỗ mà chỉ bị hỏng nặng và vẫn cố hạ cánh được xuống sân bay), nhưng vì hỏng quá nặng nên không sửa được và đã bị tháo dỡ.

Tài liệu này nói rằng, chiếc MiG-21MF của Phạm Tuân cất cánh hồi 22 giờ 16 phút đêm ngày 27 tháng 12 năm 1972 từ sân bay dã chiến Yên Bái, theo chiến thuật "đi thấp kéo cao" nhằm tránh radar của máy bay địch. Sau khi dẫn đường mặt đất thông báo cách phi đội địch 8 – 9 km, Phạm Tuân kéo cao rồi tăng tốc máy bay, dùng tốc độ cao để bất ngờ bay vọt qua 2 tốp F-4 hộ tống, khiến những chiếc F-4 không kịp phản ứng. Sau khi vọt qua đội F-4 hộ tống, ông tiếp cận 2 chiếc B-52, khi còn cách B-52 khoảng 4 km, dẫn đường mặt đất ra lệnh bắn, nhưng Phạm Tuân chờ thêm mấy giây để tiếp cận gần hơn rồi mới bắn. Chiếc MiG-21 cũng tắt radar và các thiết bị liên lạc để B-52 không phát hiện ra là đang bị áp sát. Ông bắn rơi 1 chiếc trên vùng trời phía Tây Hà Nội bằng 2 quả tên lửa không đối không Vympel K-13, rồi trở về hạ cánh xuống sân bay Yên Bái.

Phạm Tuân kể rằng: Do B-52 trang bị nhiều mồi nhiệt làm nhiễu đầu dò tên lửa nên ông đã cố gắng áp sát B-52 ở cự ly 2 – 3 km rồi mới phóng tên lửa (dù tầm bắn của tên lửa là 8 km), ở cự ly này tên lửa chỉ mất 2 - 3 giây để tới mục tiêu nên chiếc B-52 sẽ không kịp thả mồi nhiễu. Rút kinh nghiệm từ vụ của Vũ Đình Rạng (chỉ phóng 1 quả tên lửa thì không đủ để hạ tại chỗ B-52) nên ông đã phóng liền cả 2 tên lửa vào mục tiêu, không giữ lại tên lửa dự phòng. Sau khi bắn, Phạm Tuân giảm tốc, kéo máy bay lên cao và lật ngửa máy bay để thoát ly thì nhìn thấy chiếc B-52 nổ, sau đó máy bay bay lao vượt qua phía trên điểm nổ. Tuy nhiên do động tác kéo cao - thoát ly cấp tốc này nên máy ảnh phía mũi chiếc MiG-21 đã không thể chụp lại khoảnh khắc đó làm tư liệu.

Một số nguồn tài liệu Hoa Kỳ cho rằng tên lửa của ông đã bắn trượt, chiếc B-52 đã trúng tên lửa SAM-2 rồi nổ trên không trung, khiến Phạm Tuân nghĩ rằng tên lửa của ông đã phá hủy mục tiêu.[11] Nhưng nếu dưới góc độ kỹ thuật phân tích, điều này là rất khó xảy ra. Thời gian từ khi phóng tên lửa tới khi thoát ly của Phạm Tuân chỉ kéo dài 4 - 5 giây. Trong khoảng thời gian chỉ tích tắc đó, rất khó có chuyện trùng hợp tới mức chiếc B-52 vừa thoát khỏi tên lửa từ MiG lại bị trúng ngay SAM-2 từ mặt đất phóng lên.

Với chiến công này, ngay sáng hôm sau (ngày 28 tháng 12) ông đã được đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi điện khen.[12] Ông được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam ngày 3 tháng 9 (1973), khi đó ông mang quân hàm Thượng úy, biên đội trưởng thuộc Đại đội 5, trung đoàn 921, Sư đoàn Không quân 371.[1][2] Phạm Tuân chia sẻ, chiến công của ông có "80% là may mắn", nhưng may mắn ở đây là có thời cơ, và phải biết chớp được thời cơ đó thì mới làm nên chuyện. Ông cho biết: "Trận ấy không thực sự phức tạp. Nhưng thành quả đó có được là do chúng ta đã từng đổ xương máu, đổ mồ hôi cho những trận chiến đấu trước".

Thành tích này không chỉ thể hiện lòng dũng cảm mà còn cho thấy bản lĩnh, trí tuệ và kỹ năng điêu luyện của một phi công Việt Nam. Sau khi đất nước hòa bình, Phạm Tuân tiếp tục được lựa chọn tham gia chương trình hợp tác vũ trụ giữa Việt Nam và Liên Xô. Ông sang Liên Xô để huấn luyện trong môi trường khoa học – kỹ thuật hiện đại, chuẩn bị cho sứ mệnh đặc biệt. Năm 1980, ông cùng nhà du hành vũ trụ Viktor Gorbatko thực hiện chuyến bay lịch sử trên tàu Soyuz 37, trở thành người Việt Nam đầu tiên và cũng là người châu Á đầu tiên bay vào vũ trụ. Trong thời gian làm việc trên trạm quỹ đạo Salyut 6, ông đã tiến hành nhiều thí nghiệm khoa học quan trọng, đặc biệt là trong các lĩnh vực vật lý và quan sát Trái Đất.

Chuyến bay không chỉ là niềm tự hào của riêng cá nhân ông mà còn là dấu mốc lớn, khẳng định vị thế của Việt Nam trên bản đồ khoa học – công nghệ thế giới. Với những thành tích đặc biệt xuất sắc trong cả lĩnh vực quân sự và khoa học, Phạm Tuân đã được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều danh hiệu cao quý, trong đó có danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và Anh hùng Lao động. Sau này, ông tiếp tục giữ nhiều chức vụ quan trọng trong quân đội và ngành hàng không, góp phần đào tạo thế hệ phi công trẻ, xây dựng và phát triển lực lượng không quân Việt Nam ngày càng vững mạnh. Không chỉ là một người anh hùng, ông còn là biểu tượng của trí tuệ, lòng dũng cảm và tinh thần vươn lên của con người Việt Nam trong thời đại mới.

Cuộc đời của Phạm Tuân là một hành trình đầy ý nghĩa, từ một cậu bé nông thôn trở thành phi công chiến đấu, rồi trở thành nhà du hành vũ trụ – một lĩnh vực tưởng chừng rất xa vời. Ông đã chứng minh rằng với ý chí, nghị lực và khát vọng, con người Việt Nam hoàn toàn có thể chinh phục những đỉnh cao mới của khoa học và công nghệ. Tấm gương của ông không chỉ là niềm tự hào mà còn là nguồn cảm hứng lớn lao cho thế hệ trẻ hôm nay trong học tập, rèn luyện và cống hiến cho đất nước.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn