Cựu chiến binh

NGUYỄN LỆNH DŨNG - LÊN ĐƯỜNG THEO TIẾNG GỌI CỦA TỔ QUỐC

M ỗi thời có một hoàn cảnh khác nhau, và giá trị của hòa bình chính là cho thế hệ sau cơ hội lựa chọn con đường phù hợp với thời đại mình. Điều đáng giữ không phải hình thức của quá khứ, mà là khả năng hiểu mình đang thừa hưởng điều gì. Khi biết sự thống nhất, chủ quyền và cuộc sống yên ổn đều có chiều dài lịch sử phía sau, một người sẽ bớt xem mọi thuận lợi là điều hiển nhiên. Từ sự hiểu biết ấy, lòng trân trọng sẽ tự tìm được cách biểu hiện bằng hành động tử tế hơn là bằng những lời nói quá lớn.

Thanh Hóa16/09/2026Xã Thiệu Hóa (Xã Thiệu Hóa)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Bàn tay ở tuổi mười tám thường còn nguyên những đường nét của một người vừa bước ra khỏi tuổi thiếu niên, chưa kịp nếm trải bao nhiêu va đập của cuộc đời. Tôi là Nguyễn Lệnh Dũng, sinh năm 1961, quê Thiệu Hóa. Năm 1979, khi khoảng mười tám tuổi, tôi nhập ngũ, quãng phục vụ gắn với F325 – Quân đoàn 2 và kéo dài đến năm 1983. Tôi lên đường khi đất nước đã thống nhất được bốn năm. Chiến tranh chống Mỹ đã kết thúc, nhưng những khó khăn của một quốc gia vừa trải qua nhiều thập niên chiến tranh vẫn còn rất nặng nề; đồng thời, năm 1979 cũng là thời điểm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc đứng trước những thử thách mới ở các tuyến biên giới. Bởi thế, thế hệ chúng tôi lớn lên sau ngày thống nhất nhưng không có nghĩa bước ngay vào một thời kỳ hoàn toàn yên ổn. Tuổi mười tám của tôi bắt đầu trong hoàn cảnh như vậy – hòa bình đã có, nhưng để gìn giữ hòa bình, đất nước vẫn cần những người trẻ đứng vào hàng ngũ.

Tôi thuộc lớp người sinh ra khi đất nước còn chia cắt, lớn lên giữa những năm cuộc kháng chiến chống Mỹ diễn ra và vừa bước vào tuổi trưởng thành thì non sông đã thống nhất. Những ký ức thời nhỏ của một thế hệ như chúng tôi luôn có bóng dáng của những năm tháng đất nước còn chiến tranh, dù mỗi người trải nghiệm theo một cách khác nhau. Đến năm 1979, hoàn cảnh đã đổi khác, nhưng ý thức về việc bảo vệ Tổ quốc vẫn rất gần gũi. Tôi cũng có những mong ước như mọi chàng trai mười tám tuổi: được nghĩ về nghề nghiệp, về tương lai, được ở gần những người thân và bước dần vào cuộc đời của riêng mình. Thế nhưng có những thời điểm lịch sử khiến một người trẻ phải sớm hiểu rằng tương lai cá nhân chỉ thực sự bình yên khi bình yên chung được giữ vững. Vì vậy, ngày vào quân đội đối với tôi vừa là một cuộc chia xa, vừa là bước đầu tiên của quá trình tự mình trưởng thành.

Rời Thiệu Hóa, tôi mang theo rất nhiều cảm xúc mà ở tuổi ấy chưa chắc đã gọi thành tên được hết. Xa quê không đơn giản là thay đổi nơi ở; đó còn là lúc một chàng trai trẻ phải rời khỏi vòng quen thuộc để tự học cách đứng bằng đôi chân của mình. Những người thân không còn ở ngay bên để nhắc nhở, những điều quen thuộc không còn hiện diện mỗi ngày. Nỗi nhớ vì thế đến rất tự nhiên. Nhưng chính khoảng cách lại khiến tôi hiểu quê hương sâu hơn. Thiệu Hóa không chỉ là nơi ghi trong lý lịch, mà là nơi đã nuôi lớn mình, là điểm xuất phát để dù sau này đi đâu, lòng vẫn biết mình thuộc về đâu. Tôi bước vào hàng ngũ mang theo tình cảm ấy, và qua năm tháng mới hiểu yêu quê hương không chỉ là mong được quay về, mà còn là biết nhận lấy phần bổn phận của mình khi sự bình yên của đất nước cần được gìn giữ.

F325 – Quân đoàn 2 và bài học trưởng thành

Quãng quân ngũ của tôi gắn với F325 thuộc Quân đoàn 2. Từ một thanh niên mới mười tám tuổi bước vào môi trường quân đội, những ngày đầu tiên chắc chắn là một sự thay đổi lớn trong cách sống. Ở quê nhà, tuổi trẻ còn có nhiều khoảng riêng; vào quân ngũ, mỗi người phải đặt mình trong một tổ chức, tôn trọng nguyên tắc và học cách sống hài hòa với những người vốn trước đó hoàn toàn xa lạ. Tôi dần hiểu rằng trưởng thành không phải bỗng nhiên trở nên cứng rắn. Đó là quá trình con người tự biết thu xếp mình, bớt phụ thuộc vào cảm xúc nhất thời, hiểu khi nào cần nhẫn nại và biết rằng điều mình làm luôn có liên hệ với những người khác. Từng ngày trong quân ngũ lặng lẽ rèn nên những thay đổi ấy.

Năm 1979 là một năm đặc biệt của lịch sử đất nước. Việt Nam vừa đi qua những năm đầu sau thống nhất, đời sống còn nhiều khó khăn, trong khi các cuộc chiến bảo vệ biên giới đặt ra những thử thách mới đối với nhiệm vụ quốc phòng. Tôi chỉ đặt quãng phục vụ của mình trong bối cảnh chung ấy, không gắn bản thân hay F325 – Quân đoàn 2 với một chiến trường, trận đánh hay nhiệm vụ cụ thể nào ngoài những thông tin đã được xác nhận. Điều có thể nói chắc chắn là đối với một người lính trẻ khi ấy, ý nghĩa của việc đứng trong hàng ngũ rất rõ ràng: hòa bình sau năm 1975 không phải lý do để quên nhiệm vụ bảo vệ đất nước. Có những thành quả phải được tiếp tục gìn giữ, và quân đội vẫn là nơi nhiều thanh niên gửi những năm đầu đời trưởng thành của mình.

Từ năm này sang năm khác, điều khó nhất không phải luôn là những khoảnh khắc lớn, mà có khi chính là duy trì được sự nghiêm túc trong một quãng dài. Tuổi mười tám dễ hăng hái, nhưng cũng dễ nóng vội. Môi trường quân đội khiến tôi hiểu sức mạnh thật sự nhiều khi nằm ở khả năng kiềm chế sự hấp tấp ấy. Có việc cần chờ đợi, có hoàn cảnh không thể thay đổi theo mong muốn cá nhân, có lúc người ta phải học cách chấp nhận rằng trưởng thành là một quá trình chậm. Tôi đã đi từ một thanh niên vừa rời quê đến một người biết nhìn sự việc kỹ hơn, biết không để một phút mệt mỏi quyết định cách mình sống. Những thay đổi đó không phải chiến công để kể, nhưng lại là phần sâu nhất mà những năm tháng trong F325 để lại trong một đời người.

Những người giữ tuổi trẻ cho nhau

Quân ngũ đưa những người trẻ từ nhiều miền quê về đứng cạnh nhau. Ban đầu chúng tôi có thể khác giọng nói, khác thói quen, khác cách bộc lộ tình cảm, nhưng chẳng bao lâu đã nhận ra phía sau mỗi người đều có những điều rất giống nhau: ai cũng có một nơi mình nhớ, có người thân mình thương và có những dự định đang để lại phía sau. Chính sự tương đồng ấy khiến hai chữ đồng đội dần mang một ý nghĩa vượt ra ngoài cách gọi thông thường. Một người ở cạnh mình hôm nay có thể hôm qua còn là người xa lạ, nhưng khi cùng sống trong một nếp sinh hoạt, cùng trải qua những ngày xa quê, khoảng cách tự nhiên ngắn lại. Con người bắt đầu hiểu nhau không chỉ qua lời kể mà bằng thái độ, cách ứng xử và sự hiện diện mỗi ngày.

Tôi càng lớn càng thấy tình đồng đội hiếm khi được tạo nên bởi những lời hứa thật lớn. Nó thường đến từ những điều tưởng như rất nhỏ: một người biết lắng nghe khi người kia đang nặng lòng, một thái độ biết nhường nhịn khi cùng sống trong hoàn cảnh chật hẹp của tập thể, hay đơn giản là việc không xem khó khăn của người bên cạnh là chuyện chẳng liên quan đến mình. Những năm còn trẻ, chúng tôi không phải lúc nào cũng nghĩ sâu như thế. Chỉ là sống bên nhau, cùng thích nghi, cùng lớn dần lên. Nhưng chính sự tự nhiên ấy lại làm tình cảm bền. Nó không cần một sự kiện đặc biệt mới được gọi tên, bởi bản thân những ngày tháng cùng nhau đi qua đã đủ biến những người xa lạ thành một phần quan trọng trong ký ức của nhau.

Bây giờ nghĩ lại, tôi hiểu rằng đồng đội đã giữ giúp tôi hình bóng của tuổi mười tám, đôi mươi. Con người hôm nay soi gương sẽ thấy tuổi tác đã thay đổi rất nhiều, nhưng khi nghĩ về những người từng ở cạnh mình trong quân ngũ, có lúc ta lại thấy một chàng trai trẻ của mấy chục năm trước hiện về rất rõ. Những người ấy biết mình trước khi cuộc đời chất thêm nhiều trải nghiệm, biết mình khi còn vụng về, còn phải học cách tự lập và chưa hình dung hết con đường phía trước. Vì thế, nhớ đồng đội cũng là một cách trở lại với chính mình. Những tháng năm đã qua không thể quay lại, nhưng nhờ tình nghĩa giữa những người từng đứng chung hàng ngũ, một phần tuổi trẻ vẫn được gìn giữ bằng thứ ký ức rất riêng mà thời gian khó xóa nhòa.

Trở về từ một đất nước còn nhiều gian khó

Quãng phục vụ của tôi kéo dài đến năm 1983. Khi ấy tôi khoảng hai mươi hai tuổi, vẫn còn rất trẻ nếu đặt bên cả một đời người, nhưng đã đi qua những năm đầu trưởng thành trong quân đội. Đất nước lúc ấy đã thống nhất gần một thập niên, song cuộc sống hậu chiến vẫn còn vô vàn khó khăn. Nền kinh tế còn nhiều thiếu thốn, công cuộc khắc phục hậu quả chiến tranh và xây dựng lại đất nước cần thời gian dài, nhiệm vụ quốc phòng vẫn được đặt trong một bối cảnh nhiều thách thức. Bởi vậy, trở về đời thường năm 1983 không phải bước ra từ một thời đại đã hoàn toàn ổn định, mà là trở về giữa lúc cả xã hội vẫn đang cố gắng tìm đường vượt qua những gian khó của những năm đầu sau chiến tranh.

Từ tuổi mười tám đến tuổi hai mươi hai, tôi đã đi qua một quãng đủ để thấy mình khác đi. Ngày nhập ngũ, một người trẻ thường nhìn thế giới phần nhiều từ những điều mình muốn; sau vài năm sống trong tập thể, cách nhìn ấy dần rộng hơn. Tôi học được rằng cuộc sống không phải lúc nào cũng thuận theo dự định, nhưng con người có thể quyết định cách mình ứng xử với sự không thuận ấy. Có thể bình tĩnh hơn thay vì nóng nảy, có thể kiên nhẫn thay vì bỏ cuộc quá sớm, có thể biết nghĩ đến người đang ở cạnh thay vì chỉ nhìn vào cảm giác của mình. Những bài học này không kết thúc cùng ngày xuất ngũ. Chúng theo tôi trở về đời thường, như một phần đã được bồi đắp trong những năm đầu tiên của tuổi trưởng thành.

Ngày trở về còn giúp tôi cảm nhận quê hương bằng một chiều sâu khác. Người đã từng đi xa thường không còn nhìn những điều quen thuộc theo đúng cách trước ngày lên đường. Một cuộc sống bình thường bỗng trở nên đáng quý hơn bởi mình đã biết thế nào là xa cách; sự hiện diện của người thân trở nên có ý nghĩa hơn bởi đã có những năm không thể lúc nào cũng ở cạnh. Tôi cũng hiểu hòa bình không phải một khái niệm chỉ thuộc về những sự kiện lớn. Hòa bình hiện diện trong khả năng một người trẻ được ở lại quê hương nếu muốn, được học nghề, lao động, xây dựng cuộc sống mà không phải mặc nhiên chuẩn bị cho chiến tranh. Thế hệ chúng tôi đã bước vào quân ngũ sau ngày thống nhất nhưng trong một giai đoạn đất nước vẫn còn nhiều thử thách; chính vì vậy, càng hiểu rằng bình yên không tự nhiên trở thành vĩnh viễn nếu con người không biết quý và gìn giữ nó.

Một lời tri ân dành cho những năm tuổi trẻ

Nhiều năm sau nhìn lại, tôi không thấy cần làm quãng quân ngũ của mình lớn hơn sự thật. Tôi chỉ thấy biết ơn vì đã có những năm tháng giúp một chàng trai quê Thiệu Hóa sớm hiểu thế nào là xa nhà, thế nào là tình đồng đội và thế nào là sống trong một tập thể lớn hơn bản thân. Tôi từng bước vào F325 – Quân đoàn 2 ở tuổi mười tám, vào một giai đoạn đất nước đã thống nhất nhưng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc vẫn đứng trước nhiều thử thách. Chính hoàn cảnh ấy làm tôi hiểu rằng lịch sử không dừng lại ở ngày chiến thắng. Sau chiến tranh vẫn còn những con người tiếp tục đứng trong hàng ngũ, tiếp tục gìn giữ thành quả mà các thế hệ trước đã đổi bằng rất nhiều năm tháng gian nan.

Tôi mong những người trẻ hôm nay khi nhìn về thế hệ trước không nghĩ lòng biết ơn đồng nghĩa với việc phải sống giống họ.M ỗi thời có một hoàn cảnh khác nhau, và giá trị của hòa bình chính là cho thế hệ sau cơ hội lựa chọn con đường phù hợp với thời đại mình. Điều đáng giữ không phải hình thức của quá khứ, mà là khả năng hiểu mình đang thừa hưởng điều gì. Khi biết sự thống nhất, chủ quyền và cuộc sống yên ổn đều có chiều dài lịch sử phía sau, một người sẽ bớt xem mọi thuận lợi là điều hiển nhiên. Từ sự hiểu biết ấy, lòng trân trọng sẽ tự tìm được cách biểu hiện bằng hành động tử tế hơn là bằng những lời nói quá lớn.

Một đường chỉ tay không ai tự lựa chọn trước khi sinh ra, nhưng con người lại lựa chọn được cách dùng bàn tay ấy để sống. Quá khứ cũng vậy: chúng ta không lựa chọn thời đại mình được sinh vào, nhưng có thể lựa chọn thái độ khi đứng trước phần việc thuộc về thế hệ mình. Người đi trước đã có những năm tháng của họ; người hôm nay có những thử thách khác. Chỉ cần mỗi thế hệ biết sống không hổ thẹn với những điều mình đang được trao, biết quý hòa bình mà không quên chiều sâu của lịch sử, thì những năm tháng của người lính năm xưa vẫn tiếp tục có ý nghĩa – không như một câu chuyện để ngợi ca mãi, mà như một phần căn cốt giúp con cháu hiểu hơn giá trị của quê hương và cách gìn giữ một cuộc sống bình yên.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn