Cựu chiến binh

NGUYỄN LỆNH KHIỂN - ÁNH CHIỀU KÉO DÀI BÓNG NGƯỜI MỘT NĂM CŨ

Ký ức đôi khi giống một tiếng động rất khẽ vọng lại từ căn phòng đã đóng cửa từ lâu. Muốn nghe được, người ta phải chịu khó lắng xuống. Càng sống vội, càng dễ bỏ qua nó; nhưng một khi đã nghe thấy, ta hiểu rằng phía sau mình có rất nhiều cuộc đời từng đi qua những năm tháng khác với hôm nay. Sự hiểu biết ấy không làm hiện tại nặng hơn, mà khiến hiện tại có chiều sâu hơn.

Thanh Hóa16/09/2026Xã Thiệu Hóa (Xã Thiệu Hóa)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ánh nắng cuối ngày thường làm bóng người kéo dài hơn trên mặt đất. Có lẽ ký ức cũng vậy: càng đi xa khỏi tuổi trẻ, những năm tháng tưởng đã nằm lại phía sau càng hiện lên với một chiều sâu khác. Tôi là Nguyễn Văn Khiển, sinh năm 1949, quê Thiệu Hóa. Năm 1968, khi khoảng mười chín tuổi, tôi bước vào quân ngũ, quãng phục vụ gắn với D489 E14. Đến năm 1971, tôi rời hàng ngũ. Nếu chỉ đặt cạnh nhau hai mốc thời gian ấy, đó là một quãng ba năm. Nhưng đối với một người thanh niên mới bước qua tuổi mười tám, ba năm giữa thời đất nước còn chiến tranh đủ để làm thay đổi rất nhiều điều: cách nhìn về gia đình, về quê hương, về đồng đội và cả về chính mình. Tôi ra đi khi còn mang nhiều nét non trẻ của một người vừa bước vào đời; lúc trở về, chiến tranh vẫn chưa kết thúc, nhưng trong tôi đã có thêm một phần trầm lắng mà chỉ những tháng năm sống trong quân ngũ mới có thể tạo nên.

Năm 1968 là thời điểm cuộc kháng chiến chống Mỹ đang diễn ra quyết liệt. Đất nước còn chia cắt, miền Bắc vừa sản xuất, xây dựng vừa phải đối mặt với chiến tranh; miền Nam tiếp tục cuộc đấu tranh vì độc lập và thống nhất. Tôi sinh ra trong một thế hệ mà chuyện đất nước chưa bao giờ ở quá xa chuyện của từng gia đình. Tuổi trẻ khi ấy vẫn có những ước mong như tuổi trẻ ở bất kỳ thời nào: mong được sống gần những người thân, mong có công việc, mong một ngày xây dựng cuộc sống riêng. Nhưng những điều bình thường ấy đều nằm dưới một bầu trời chiến tranh chưa biết bao giờ mới yên. Bởi vậy, ngày bước vào hàng ngũ, tôi không nghĩ mình đang làm điều gì khác thường. Tôi chỉ hiểu đây là lúc một người trẻ phải biết dành một phần sức lực của mình cho điều lớn hơn cuộc sống riêng.

Rời Thiệu Hóa, thứ ở lại sâu nhất trong lòng tôi không phải một hình ảnh duy nhất mà là cảm giác về quê nhà. Có những điều lúc ở gần ta coi là bình thường, đến khi xa mới thấy chúng đã ăn sâu vào mình từ bao giờ: tiếng người thân gọi nhau, nhịp sống quen thuộc, những khuôn mặt đã gặp từ thuở nhỏ. Nỗi nhớ ấy đi theo tôi nhưng không kéo tôi lùi lại. Trái lại, nó khiến tôi hiểu rõ hơn ý nghĩa của hai chữ quê hương. Một người muốn quê mình được bình yên thì trước hết phải biết sống có trách nhiệm trong hoàn cảnh mà đất nước đang trải qua. Tôi mang theo suy nghĩ giản dị ấy vào quân ngũ, không phải như một lời thề được nói thành tiếng, mà như một điều âm thầm giúp mình đứng vững hơn trong những năm tháng phía trước.

D489 E14 – những ngày tuổi trẻ học cách tự giữ mình

Quãng quân ngũ của tôi gắn với D489 E14. Phiên hiệu ấy về sau trở thành một phần khó tách khỏi ký ức tuổi trẻ. Trong môi trường quân đội, một thanh niên phải học rất nhanh rằng cuộc sống không còn chỉ xoay quanh nhịp riêng của mình. Mỗi người đều thuộc về một tập thể, có những nguyên tắc chung phải tôn trọng và những giới hạn không thể tùy tiện vượt qua. Tôi bước vào đó với sự bỡ ngỡ của tuổi mười chín rồi dần hiểu rằng kỷ luật trước hết là cách con người học tự quản lấy mình. Khi còn ở nhà, một lời nhắc có thể đến từ cha mẹ, người thân; trong quân ngũ, càng trưởng thành càng phải tự biết điều gì cần giữ mà không chờ ai đứng cạnh.

Những năm chiến tranh khiến điều đó càng có ý nghĩa. Người lính không thể chọn ngày nào mình mới nghiêm túc, cũng không thể chỉ cố gắng khi tinh thần đang tốt. Có những ngày lòng nhẹ, cũng có những ngày nỗi nhớ quê dâng lên, có lúc mệt mỏi hoặc suy nghĩ nhiều về tương lai. Nhưng tập thể vẫn có nhịp của nó, và mình phải học cách không để những dao động riêng làm ảnh hưởng đến cái chung. Tôi dần hiểu sức mạnh không phải là không có lúc yếu lòng, mà là biết đưa mình trở lại sự bình tĩnh sau những phút chùng xuống. Chính những điều nhỏ như vậy, lặp lại qua ngày tháng, làm tuổi trẻ bớt đi sự bồng bột và thêm vào một sự vững chãi mà khi còn ở quê tôi chưa từng hiểu hết.

Ba năm ấy cũng dạy tôi cách nhìn đúng hơn về giá trị của những người bình thường trong một tập thể. Không phải ai cũng có một câu chuyện lớn để kể, và một đơn vị cũng không thể được làm nên chỉ từ vài con người nổi bật. Sức mạnh nằm ở chỗ rất nhiều người cùng biết giữ phần mình. Người này nghiêm túc thì người bên cạnh yên tâm hơn; người kia biết nhường nhịn thì không khí tập thể bớt căng thẳng; một người sống chân thành có thể khiến những người khác tin tưởng lâu dài. Tôi nhận ra rằng điều làm nên uy tín của một con người hiếm khi xuất hiện trong một ngày. Nó được tích lại từ cách người ấy sống qua hàng trăm ngày bình thường, khi không có ai đứng đó để khen ngợi hay ghi chép.

Đồng đội – những gương mặt ở lại với tuổi thanh xuân

Những năm quân ngũ sẽ rất khác nếu không có đồng đội. Chúng tôi đến từ những miền quê khác nhau, mang theo những hoàn cảnh khác nhau, nhưng đều còn trẻ và đều có một nơi ở phía sau để nhớ. Chính sự giống nhau ấy tạo ra một sự cảm thông rất tự nhiên. Người này không cần biết hết câu chuyện gia đình của người kia mới hiểu cảm giác xa nhà. Chỉ cần đã từng nằm trong đêm mà nghĩ về quê, từng có một phút bất chợt nhớ người thân, thì khi nhìn thấy người bên cạnh trầm xuống cũng dễ biết trong lòng họ đang có gì. Những người xa lạ ban đầu rồi dần trở nên gần gũi như thế, không phải nhờ một câu chuyện đặc biệt mà nhờ cùng đi qua một nhịp sống.

Tôi nhớ đồng đội bằng cảm giác nhiều hơn bằng những sự kiện. Có những người khiến mình yên tâm chỉ vì họ sống rất nhất quán. Có người không nói nhiều nhưng luôn giữ phần của mình. Có người biết làm cho một ngày nặng nề trở nên nhẹ đi bằng sự chân tình. Qua những người ấy, tôi hiểu tình đồng đội không chỉ là ở cạnh nhau trong cùng một đơn vị; đó còn là khả năng khiến nhau bớt đơn độc trong những năm xa quê. Khi mình biết người bên cạnh cũng đang cố gắng, bản thân tự nhiên có thêm sức để đi tiếp. Chính sự đồng hành ấy khiến ba năm tuổi trẻ tuy sống giữa chiến tranh nhưng trong ký ức không chỉ có gian khó, mà còn có một thứ ấm áp rất bền của tình người.

Thời gian về sau làm một điều rất lạ: khuôn mặt ngoài đời thay đổi, còn khuôn mặt trong ký ức thường đứng yên. Những người từng gặp nhau lúc mười chín, đôi mươi có thể nhiều chục năm sau vẫn hiện về ở đúng tuổi ấy. Bởi vậy, nhớ đồng đội cũng là cách tôi gặp lại chính mình thời trẻ – một Nguyễn Văn Khiển còn nhiều bỡ ngỡ, từng bước học cách sống cùng người khác, học nhường đi một chút cái riêng và hiểu rằng con người chỉ thật sự mạnh khi biết mình đang đứng bên cạnh ai. Có lẽ đó là món quà sâu nhất của tình đồng đội: mỗi người giữ hộ cho người kia một phần thanh xuân mà không năm tháng nào có thể trả lại nguyên vẹn.

Trở về năm 1971, khi chiến tranh vẫn còn phía trước

Năm 1971, tôi rời quân ngũ khi khoảng hai mươi hai tuổi. Đất nước khi ấy vẫn chưa hòa bình, chiến tranh chống Mỹ còn tiếp tục và ngày thống nhất vẫn ở phía trước. Bởi vậy, ngày trở về của tôi không phải một dấu chấm hết cho câu chuyện của cả một thế hệ. Trong khi tôi trở lại đời thường, nhiều người khác vẫn đang tiếp tục phần việc của họ. Điều ấy khiến tôi hiểu rất rõ rằng mỗi người chỉ có thể đi một đoạn trong hành trình dài của đất nước. Có người bắt đầu trước mình, có người còn ở lại sau mình; lịch sử được làm nên từ vô vàn những đoạn đời nối tiếp nhau như thế.

Ba năm quân ngũ đã để lại trong tôi một cách nhìn khác về tuổi trẻ. Trước ngày lên đường, tôi nghĩ nhiều về những gì phía trước có thể dành cho mình. Khi trở về, tôi nghĩ nhiều hơn đến việc mình sẽ sống thế nào cho xứng đáng với những gì đã trải qua. Quân đội dạy tôi biết kiên nhẫn trước điều không thuận, biết sự nghiêm túc không nên phụ thuộc vào việc có ai nhìn thấy hay không, biết con người không thể chỉ dựa vào cảm xúc để quyết định cách mình đối xử với người khác. Đó không phải những bài học được viết thành lời thật đẹp, mà là những điều thấm dần qua cuộc sống tập thể, rồi ở lại trong con người ngay cả khi quân phục đã được cất đi.

Sau này, khi đất nước tiếp tục đi qua những năm chiến tranh rồi đến ngày thống nhất năm 1975, tôi càng nhìn rõ hơn ý nghĩa của quãng đời 1968–1971. Tôi đã từng đứng trong hàng ngũ vào một giai đoạn khó khăn của dân tộc, nhưng tôi không muốn nhìn tuổi trẻ của mình chỉ qua hai chữ gian khổ. Phần đáng quý hơn là giữa hoàn cảnh ấy, con người vẫn giữ được tình cảm với quê hương, sự gắn bó với đồng đội và niềm mong mỏi về một ngày đất nước được yên. Nếu chỉ nhớ chiến tranh bằng khói lửa, ta sẽ bỏ quên điều con người thật sự hướng tới: một cuộc sống trong đó những người trẻ có thể trưởng thành bằng học tập, lao động và tình yêu thay vì phải lớn lên trong tiếng súng.

Điều còn ngân sau một quãng đời đã xa

Nhiều năm trôi qua, tôi càng thấy quá khứ không cần phải được kể bằng những lời quá lớn mới trở nên đáng quý. Điều làm tôi trân trọng ba năm quân ngũ chính là sự bình dị của nó. Tôi đã từng là một thanh niên như bao người khác, có nhớ thương, có những dự định riêng, nhưng trong một thời điểm nhất định đã bước vào hàng ngũ và sống phần tuổi trẻ ấy theo yêu cầu của đất nước. Có thể rồi nhiều chi tiết sẽ nhạt đi, nhưng cảm giác đã từng đứng cùng một tập thể, từng tự rèn mình trong những năm đất nước còn chiến tranh thì vẫn ở lại. Nó trở thành một phần trong cách mình nhìn cuộc sống, chứ không chỉ là một câu chuyện để kể.

Với thế hệ hôm nay, hòa bình có lẽ dễ được cảm nhận nhất ở quyền được sống một đời bình thường. Một người trẻ có thể chọn điều mình muốn học, nơi mình muốn sống, công việc mình muốn làm; có thể nghĩ đến nhiều năm phía trước mà không phải luôn đặt chiến tranh vào giữa những dự tính ấy. Đó là một giá trị vô cùng lớn. Nhưng quá khứ không đòi người trẻ phải cúi đầu trước nó. Quá khứ chỉ mong được hiểu. Khi đã hiểu rằng sự bình thường hôm nay từng là ước vọng của biết bao thế hệ, mỗi người sẽ tự biết trân trọng hơn thời gian, cơ hội và những mối quan hệ mình đang có.

Tôi nghĩ lòng biết ơn đẹp nhất là khi nó làm con người sống tử tế hơn, chứ không chỉ nói hay hơn. Biết ơn quê hương thì đừng thờ ơ với nơi mình đang sống. Biết ơn những người đi trước thì đừng xem nhẹ công sức của người đang đứng cạnh mình. Biết hòa bình từng phải đi qua những năm rất dài mới có được thì đừng dùng bình yên vào những điều làm tổn thương người khác. Lịch sử khi ấy không còn nằm yên trong những con số; nó trở thành một phần của cách sống.

Ký ức đôi khi giống một tiếng động rất khẽ vọng lại từ căn phòng đã đóng cửa từ lâu. Muốn nghe được, người ta phải chịu khó lắng xuống. Càng sống vội, càng dễ bỏ qua nó; nhưng một khi đã nghe thấy, ta hiểu rằng phía sau mình có rất nhiều cuộc đời từng đi qua những năm tháng khác với hôm nay. Sự hiểu biết ấy không làm hiện tại nặng hơn, mà khiến hiện tại có chiều sâu hơn.

Điều còn lại từ một thời hoa lửa, vì thế, không chỉ là dấu vết của chiến tranh. Đó còn là khả năng con người vẫn giữ được tình nghĩa giữa gian khó, vẫn thương quê hương khi ở xa, vẫn biết dựa vào nhau để đi qua những ngày chưa nhìn thấy đoạn cuối. Những điều ấy không thuộc riêng một thời. Chúng vẫn có giá trị trong bất cứ cuộc sống nào, bởi một xã hội chỉ thật sự bình yên khi con người không trở nên lạnh nhạt với nhau.

Và khi những lớp người sau có thể đứng giữa một ngày yên tĩnh, nghe tiếng cuộc sống trôi bình thường quanh mình mà vẫn biết quý sự bình thường ấy, tôi tin những năm tháng cũ đã được tri ân theo cách sâu sắc nhất. Không cần dựng chúng thành điều xa vời; chỉ cần để từ ký ức ấy, lòng người thêm một chút biết ơn, thêm một chút nhân hậu và thêm một chút vững vàng. Như thế, quãng tuổi trẻ đã qua từ rất lâu vẫn còn một dư âm – nhỏ thôi, nhưng đủ để nhắc rằng bình yên hôm nay từng là điều rất nhiều người của một thời đã mong mỏi.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
NGUYỄN LỆNH KHIỂN - ÁNH CHIỀU KÉO DÀI BÓNG NGƯỜI MỘT NĂM CŨ | Câu chuyện thời hoa lửa