Nguyễn Lương Bằng - người Cộng sản kiên trung, mẫu mực
Nguyễn Lương Bằng – “Sao Đỏ” kiên trung, người cán bộ mẫu mực của cách mạng Đồng chí Nguyễn Lương Bằng (1904–1979), bí danh Sao Đỏ, sinh tại thôn Đông, nay thuộc xã Thanh Tùng, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương, trong một gia đình nhà Nho nghèo yêu nước. Chứng kiến cảnh đất nước bị thực dân thống trị, nhân dân lầm than, ông sớm hình thành lòng yêu nước, thương dân và ý chí đấu tranh chống áp bức. Năm 1925, sau khi đến Quảng Châu, ông được gặp Nguyễn Ái Quốc, tham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và học lớp huấn luyện chính trị do Nguyễn Ái Quốc tổ chức. Đây là bước ngoặt quan trọng đưa ông đến với con đường cách mạng.
Sau khi hoàn thành khóa huấn luyện, Nguyễn Lương Bằng trở về nước thực hiện nhiệm vụ xây dựng đường dây liên lạc, truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng cách mạng của Nguyễn Ái Quốc. Ông hoạt động tại nhiều địa phương, trực tiếp gây dựng cơ sở cách mạng và vận động công nhân, thanh niên tham gia phong trào. Ông cũng tình nguyện tham gia phong trào “vô sản hóa”, đi sâu vào thực tiễn đời sống công nhân, góp phần kết hợp lý luận cách mạng với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Những hoạt động đó góp phần chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trong những năm hoạt động dưới chế độ thực dân, Nguyễn Lương Bằng nhiều lần bị bắt và trải qua hơn 10 năm tù đày tại các nhà tù khắc nghiệt. Dù bị tra tấn, thiếu thốn và bệnh tật, ông vẫn giữ vững khí tiết, kiên trì hoạt động và động viên các đồng chí đấu tranh. Với sự dũng cảm và mưu trí, ông đã hai lần tổ chức vượt ngục thành công, trong đó lần vượt ngục khỏi nhà tù Sơn La năm 1943 để trở về tiếp tục hoạt động cách mạng là một dấu ấn đặc biệt. Những năm tháng tù đày không khuất phục được ý chí mà càng tôi luyện bản lĩnh của người chiến sĩ cộng sản kiên trung.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Nguyễn Lương Bằng được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Ban Thường trực Ủy ban Giải phóng dân tộc Việt Nam. Ông cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng tham gia lãnh đạo Tổng khởi nghĩa, góp phần xây dựng chính quyền cách mạng và tổ chức cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong công tác xây dựng Đảng, ông đặc biệt coi trọng việc dựa vào quần chúng, phát triển các tổ chức đoàn thể và xây dựng lực lượng cách mạng từ cơ sở. Quan điểm đó thể hiện tư duy thực tiễn và sự gắn bó sâu sắc của ông với nhân dân.
Một đóng góp quan trọng khác của Nguyễn Lương Bằng là trong lĩnh vực kinh tế, tài chính và ngân hàng. Năm 1947, ông được giao phụ trách công tác kinh tế – tài chính của Đảng và giữ chức Trưởng Ban Kinh tế – Tài chính Trung ương. Năm 1951, ông được bổ nhiệm làm Tổng Giám đốc đầu tiên của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam. Trên các cương vị này, ông đề xuất và tổ chức thực hiện nhiều chủ trương phù hợp, góp phần xây dựng nền tài chính của chính quyền cách mạng, tăng cường tiềm lực phục vụ kháng chiến và xây dựng đất nước, đồng thời đào tạo đội ngũ cán bộ kinh tế, tài chính có năng lực và phẩm chất.
Nguyễn Lương Bằng còn là Đại sứ Việt Nam đầu tiên tại Liên Xô, góp phần tăng cường quan hệ giữa Việt Nam với các nước xã hội chủ nghĩa và bạn bè quốc tế. Sau đó, ông đảm nhiệm công tác kiểm tra của Đảng và thanh tra của Chính phủ, luôn đề cao vai trò của công tác tư tưởng, tổ chức và kiểm tra trong xây dựng Đảng. Trong mọi cương vị, ông giữ phong cách làm việc nghiêm túc, giản dị, cần cù và trong sáng, luôn đặt lợi ích của Đảng, Nhà nước và Nhân dân lên trên lợi ích cá nhân. Chính phẩm chất ấy khiến ông được các thế hệ cán bộ kính trọng, gọi bằng tên thân mật “Anh Cả”.
Với hơn nửa thế kỷ hoạt động cách mạng, Nguyễn Lương Bằng đã có những đóng góp quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Năm 1969, ông được bầu làm Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và sau năm 1976 tiếp tục giữ cương vị Phó Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hai tên gọi “Sao Đỏ” và “Anh Cả” đã trở thành biểu tượng cho hai phẩm chất nổi bật của ông: ý chí cách mạng kiên cường và đạo đức mẫu mực, trong sáng. Cuộc đời Nguyễn Lương Bằng để lại tấm gương sâu sắc về lòng trung thành, sự giản dị, cần kiệm, liêm chính và tinh thần tận tụy phụng sự Tổ quốc, Nhân dân.



