Nguyễn Minh Quang
Sư Huệ Chí, thế danh Võ Minh Quang, bút danh Văn Phi, sinh năm 1927 tại làng Hòa Long, quận Lai Vung, tỉnh Sa Đéc (nay thuộc huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp). Ông tu học tại chùa Viên Giác, làng Long Hổ (Vĩnh Long). Sau đó, ông theo học giáo lý ở Huế và trở về vun bồi đạo pháp ở chùa. Năm 1947, trước cao trào kháng chiến chống thực dân Pháp, sư Huệ Chí đã tham gia cách mạng với nhiệt tình yêu nước, trọn vẹn “đạo vàng đời”. Năm 1953, Sư Huệ Chí hy sinh tại Lộc Hòa (Vĩnh Long) trong một cuộc chiến
Võ Minh Quang
(1927 – 1953)
Sư Huệ Chí, thế danh Võ Minh Quang, bút danh Văn Phi, sinh năm 1927 tại làng Hòa Long, quận Lai Vung, tỉnh Sa Đéc (nay thuộc huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp). Ông tu học tại chùa Viên Giác, làng Long Hổ (Vĩnh Long). Sau đó, ông theo học giáo lý ở Huế và trở về vun bồi đạo pháp ở chùa.
Năm 1947, trước cao trào kháng chiến chống thực dân Pháp, sư Huệ Chí đã tham gia cách mạng với nhiệt tình yêu nước, trọn vẹn “đạo vàng đời”.
Năm 1953, Sư Huệ Chí hy sinh tại Lộc Hòa (Vĩnh Long) trong một cuộc chiến đấu chống giặc càn bố.
Các bài thơ tiêu biểu của ông: Than thân (I, II), Từ giã ra đi, Ra đi…
RA ĐI
Cõi đạo cả sa mạc chiến bào,
Giã từ thiền viện luốt binh đao.
Câu kinh tiếng kệ chờ khi khác,
Cứu nước thương dân đợi lúc nào?
Bác ái giúp đời ra khổ khó,
Từ bi độ chúng khỏi gian lao.
Rạng danh Phật tử người Nam Việt,
Cương quyết hy sinh giọt máu đào.
Máu đào rửa sạch vết đau thương,
Vết nhục còn chưa lắm đoạn trường.
Từ thuở đạo đầy nơi ngục tối,
Bao phen chinh phạt chốn biên cương.
Công ơn trời buộc thề non nước,
Xiềng xích đánh tan há nhịn nhường.
Nô lệ từ đây dân chúng khỏi,
Ngọn cờ độc lập khắp Nam phương.



