NGUYỄN MINH VỸ – TỪ DÒNG DÕI HOÀNG TỘC ĐẾN BẢN LĨNH TRÊN BÀN ĐÀM PHÁN
Ngô Ánh Tuyết
Sinh ngày 17/7/1914 trong một gia đình Hoàng tộc triều Nguyễn danh giá với tên khai sinh Tôn Thất Vỹ, ông vốn có một tương lai giàu sang và an nhàn được định sẵn. Thế nhưng, người con ấy đã chối bỏ mọi đặc quyền của dòng dõi phong kiến để dấn thân vào con đường cách mạng chông gai, cống hiến trọn đời cho nền độc lập dân tộc.
Ngay từ thời niên thiếu khi theo học tại Trường Quốc học Vinh, Tôn Thất Vỹ đã thể hiện chí khí khi tham gia phong trào bãi khóa của học sinh và bị đuổi học. Chuyển vào Trường Quốc học Quy Nhơn, ông tiếp tục dấn thân và được kết nạp vào Thanh niên Cộng sản Đoàn. Năm 1931, ông bị chính quyền thực dân bắt giữ và tuyên án 7 năm tù khổ sai. Kèm theo đó, nhà Nguyễn đã gạch tên ông khỏi dòng tộc, bắt đổi sang họ Trương của mẹ. Tuy nhiên, sự tước đoạt danh phận ấy không thể lay chuyển được lý tưởng kiên định trong lòng người thanh niên yêu nước.
Sau khi thoát khỏi chốn tù ngục, ông trở về hoạt động trong Tỉnh ủy lâm thời Bình Định. Không chỉ sôi nổi trên mặt trận chính trị, ông còn là một tâm hồn văn thơ phóng khoáng, từng sinh hoạt trong nhóm “Thái Dương Văn Đoàn” cùng Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Phan Thanh. Khi cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, ông lấy lại tên Tôn Thất Vỹ, đảm nhiệm vai trò Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính tỉnh Khánh Hòa, trực tiếp lãnh đạo quân dân chiến đấu kiên cường suốt 101 ngày đêm (10/1945 – 02/1946) và trở thành Đại biểu Quốc hội đầu tiên của Khánh Hòa vào năm 1946.
Bước sang giai đoạn chống Mỹ, ông kinh qua nhiều vị trí quan trọng như Phụ trách Hội đồng Tập kết Liên khu 5, Chỉ huy trưởng Quân cảng Quy Nhơn và các chức vụ then chốt về thông tin, tuyên huấn. Dấu ấn đậm nét nhất trong sự nghiệp của ông chính là vai trò Phó trưởng đoàn đàm phán Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Paris. Dưới cái tên Nguyễn Minh Vỹ, ông đã dùng trí tuệ, bản lĩnh và sự sắc bén trên mặt trận ngoại giao để đấu tranh giữ vững lập trường chính nghĩa của dân tộc trước dư luận thế giới.
Những nỗ lực không mệt mỏi ấy đã góp phần dẫn đến việc ký kết Hiệp định Paris ngày 27/1/1973, mở ra bước ngoặt lịch sử cho ngày đại thắng. Mãi đến ngày 29/9/2002, ông thanh thản trút hơi thở cuối cùng, hưởng thọ 88 tuổi, để lại Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất cùng niềm tôn kính sâu sắc trong lòng nhân dân.
Thông điệp:
Danh phận có thể là thứ ta được trao, nhưng lý tưởng và cống hiến mới là điều làm nên giá trị của một đời người.



