Anh hùng Lực lượng vũ trang

Nguyễn Năng Nghĩa, Vũ Phí Định hay Đoàn Sinh Hưởng - ký ức thời hoa lửa

Câu chuyện khắc họa hình ảnh những người con Quảng Ninh trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, tiêu biểu là Nguyễn Năng Nghĩa, Vũ Phí Định và Đoàn Sinh Hưởng. Nguyễn Năng Nghĩa từ chiến sĩ pháo cao xạ trở thành đặc công nước của Lữ đoàn 126, trực tiếp đánh đắm nhiều tàu địch trong chiến dịch Đường 9 – Nam Lào và hai lần được phong danh hiệu Dũng sĩ đánh tàu Mỹ. Vũ Phí Định chiến đấu tại Quảng Trị, cùng đồng đội bắn rơi máy bay F4, được phong Dũng sĩ diệt máy bay, nhưng cũng chứng kiến nhiều đồng

Quảng Ninh12/02/2026Đoàn trường THPT Ngô Gia Tự (Đoàn phường Liên Hòa)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

“Những người con Vùng mỏ giữa trời hoa lửa”

Những ngày tháng Tư, khi cờ đỏ sao vàng rợp trời Quảng Ninh, khi cả nước hân hoan kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, trong căn nhà nhỏ ở phường Hồng Hải (TP Hạ Long), tiếng ấm trà khẽ reo hòa cùng câu chuyện của những người lính năm xưa. Họ đã đi qua chiến tranh, đi qua bom đạn, mang trên mình dấu tích của một thời hoa lửa – thời tuổi trẻ được đo bằng lòng dũng cảm và những trận đánh không lùi bước.

Nguyễn Năng Nghĩa năm ấy vừa tròn 18 tuổi. Rời quê Ân Thi (Hưng Yên), chàng trai trẻ khoác ba lô lên đường nhập ngũ năm 1965, mang theo lời dặn của mẹ và ký ức về người cha đã hy sinh trong những trận bom phá hoại miền Bắc. Được phân về đơn vị pháo cao xạ bảo vệ vùng trời khu mỏ Quảng Ninh, anh cùng đồng đội ngày đêm bám trận địa, ngẩng cao đầu trước từng tốp máy bay gầm rú. Những loạt đạn xé trời, những chiếc máy bay bốc cháy giữa không trung đã tiếp thêm niềm tin cho quân dân Vùng mỏ: bầu trời này không dễ bị khuất phục.

Cuối năm 1968, Nguyễn Năng Nghĩa tình nguyện trở thành đặc công nước của Lữ đoàn Đặc công Hải quân 126. Gần một năm ròng rã huấn luyện trên sông Chanh – bơi lặn giữa mùa hè nắng gắt và mùa đông buốt giá – đã rèn giũa anh thành người lính thép. Năm 1971, anh vào chiến trường Đường 9 – Nam Lào. Dưới làn đạn dày đặc, những người lính đặc công âm thầm ngụp lặn hàng chục giờ trong nước, chờ thời cơ đặt mìn vào thân tàu địch. Hai tháng không ngơi nghỉ, đơn vị đánh 25 trận lớn nhỏ, tiêu diệt hàng chục tàu vận tải và tàu chiến. Riêng Nguyễn Năng Nghĩa trực tiếp đánh đắm 4 tàu địch, hai lần được phong tặng danh hiệu Dũng sĩ đánh tàu Mỹ.

Nhưng với ông, chiến công không bao giờ là của riêng mình. Đó là của những người đồng đội đã cùng dầm mình trong nước lạnh, cùng chia nhau từng nắm cơm vắt, cùng cõng nhau vượt qua mưa bom bão đạn. Có người đã nằm lại nơi chiến trường. Có người trở về với vết thương không bao giờ lành. “Không có đơn vị, không có đồng đội, tôi không thể làm được gì”, ông Nghĩa lặng giọng khi nhắc về quá khứ.

Ở một chiến trường khác, cuối năm 1972, tại Quảng Trị rực lửa, chàng trai Hạ Long 18 tuổi Vũ Phí Định cũng đang đối mặt với những trận bom dữ dội. Trong một lần ba chiếc F4 bổ nhào ném bom xuống Ban tham mưu trung đoàn, khẩu đội của ông đồng loạt nổ súng. Ông siết cò, bám sát mục tiêu. Một chiếc F4 bốc cháy, chao đảo rồi lao về phía biển. Niềm vui chưa kịp trọn thì trận chiến mới lại ập đến. Đầu năm 1973, ông và đồng đội được phong tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt máy bay.

Song chiến tranh không chỉ có chiến thắng. Ngày 15/1/1973, một quả bom rơi trúng lô cốt khẩu đội 12,7mm tại làng Phương Ngạn, năm đồng đội của ông hy sinh. Nỗi đau ấy theo ông suốt nửa thế kỷ. Sau này, khi đất nước hòa bình, ông nhiều lần trở lại chiến trường xưa, tìm mộ liệt sĩ, mong đồng đội được trở về với đất mẹ. Với ông, ký ức hoa lửa không chỉ là hào quang, mà còn là trách nhiệm gìn giữ nghĩa tình.

Cũng từ Vùng mỏ kiên trung, Đoàn Sinh Hưởng – chàng trai 17 tuổi xin “thế chân” để được nhập ngũ – đã viết nên câu chuyện riêng của mình. Từ chiến dịch Mậu Thân 1968 đến Tây Nguyên, Buôn Ma Thuột, Phú Yên rồi tiến về Sài Gòn, ông chỉ huy Đại đội Tăng đánh thẳng vào những mục tiêu hiểm yếu như Cầu Bông, ngã tư Bảy Hiền, sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng tham mưu ngụy. Ở tuổi 26, ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Sau này, ông trở thành Trung tướng, Tư lệnh Binh chủng Tăng thiết giáp – nhưng ký ức sâu đậm nhất vẫn là những ngày cùng đồng đội tiến vào thành phố trong khúc khải hoàn mùa Xuân 1975.

Ba con người, ba chiến trường, nhưng chung một lý tưởng: Tổ quốc trên hết. Họ rời quê khi tuổi đời còn rất trẻ, mang theo khát vọng độc lập tự do. Họ chiến đấu không toan tính, không đòi hỏi, chỉ biết rằng nếu mình lùi bước, quê hương sẽ chìm trong khói lửa.

Hôm nay, giữa đời thường yên bình, những người lính năm xưa vẫn lặng lẽ góp sức xây dựng quê hương. Người làm cán bộ khu phố, người tham gia tổ tự quản an ninh, người tiếp tục đóng góp cho quân đội và đất nước. Họ sống giản dị như bao người dân khác, nhưng trong tim vẫn rực cháy một thời hoa lửa.

“Câu chuyện thời hoa lửa” không chỉ là chuyện của riêng Nguyễn Năng Nghĩa, Vũ Phí Định hay Đoàn Sinh Hưởng. Đó là câu chuyện của cả một thế hệ thanh niên Việt Nam – thế hệ đã lấy tuổi xuân làm ngọn đuốc, lấy lòng yêu nước làm kim chỉ nam, viết nên bản anh hùng ca bất tử của dân tộc.

Và mỗi độ tháng Tư về, khi đất nước ngập tràn sắc đỏ của hòa bình, những câu chuyện ấy lại được kể, để nhắc nhở thế hệ hôm nay rằng: độc lập không tự nhiên mà có; tự do được đánh đổi bằng máu, nước mắt và cả tuổi thanh xuân rực rỡ nhất của một thời hoa lửa.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn