NGUYỄN NGỌC NHU – NGƯỜI PHÓNG VIÊN MANG TRANG VIẾT RA CHIẾN TRƯỜNG CỬA VIỆT - PHẦN I
Người con quê hương Thụy Lôi
Ngày 18 tháng 9 năm 1931, Nguyễn Ngọc Nhu ra đời tại quê hương Thụy Lôi, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Sau này, ông trở thành phóng viên Báo Quân đội nhân dân, gắn bó với công việc phản ánh cuộc sống và chiến đấu của bộ đội trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Nguyễn Ngọc Nhu trưởng thành trong một giai đoạn lịch sử nhiều biến động. Đất nước còn chịu ách thống trị của thực dân, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, các phong trào đấu tranh giành độc lập diễn ra trên khắp cả nước. Những năm tháng ấy đặt ra cho thế hệ thanh niên nhiều lựa chọn, trong đó có con đường tham gia cách mạng và phục vụ đất nước.
Tư liệu về cuộc đời ông hiện còn được lưu giữ chủ yếu qua các bài viết của Báo Quân đội nhân dân và ký ức của người thân, đồng nghiệp. Những nguồn tư liệu ấy không chỉ ghi lại quá trình ông trở thành nhà báo quân đội mà còn nhắc đến một người con trong gia đình, một người chồng và một người anh luôn nghĩ đến trách nhiệm với người thân trước khi lên đường nhận nhiệm vụ.
Nguyễn Ngọc Nhu kết hôn với bà Bùi Thị Binh, người làm nghề y tá tại bệnh viện huyện Tiên Lữ. Cuộc sống vợ chồng ông không kéo dài được lâu trong điều kiện chiến tranh và những nhiệm vụ công tác xa nhà. Khi ông lên đường vào chiến trường cuối năm 1967, ông vẫn mang theo mong muốn hoàn thành nhiệm vụ để có ngày trở về với gia đình.
Cuộc đời ông sau này gắn với Báo Quân đội nhân dân, nơi ông làm công việc của một phóng viên chiến trường. Đối với Nguyễn Ngọc Nhu, viết báo không chỉ là nghề nghiệp mà còn là nhiệm vụ được giao. Ông phải đi đến những địa bàn chiến đấu, tìm hiểu tình hình thực tế, ghi chép hoạt động của bộ đội và phản ánh những gì đang diễn ra tại mặt trận.
Chuyến công tác vào Quảng Trị cuối năm 1967 đã trở thành chuyến đi cuối cùng của ông. Tại đây, người phóng viên quê Hưng Yên trực tiếp theo sát Tiểu đoàn 47, Trung đoàn 270, vừa ghi chép tư liệu phục vụ công việc báo chí, vừa cầm súng chiến đấu cùng bộ đội. Ngày 21 tháng 1 năm 1968, ông hy sinh tại mặt trận Cửa Việt khi nhiệm vụ vẫn còn dang dở.


