Nguyễn Ngọc Quỳnh – mười lăm ngày học quay phim và tám tháng ở Điện Biên
Chỉ được học quay phim trong khoảng 15 ngày, Nguyễn Ngọc Quỳnh vẫn cùng một tổ điện ảnh bốn người mang chiếc máy quay 16mm vượt Lũng Lô, đèo Pha Đin và bám mặt trận suốt tám tháng. Những thước phim của họ trở thành tư liệu trực tiếp quý giá về Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Đầu năm 1954, Nguyễn Ngọc Quỳnh nhận một nhiệm vụ mà chính ông cũng chưa từng hình dung: mang máy quay lên chiến trường để ghi lại một chiến dịch lớn.
Khi ấy, ông mới ngoài hai mươi tuổi và đang là phóng viên ảnh. Kiến thức về điện ảnh của ông rất ít. Lớp huấn luyện quay phim mà ông được tham gia chỉ kéo dài khoảng 15 ngày. Ngoài những bài học cơ bản, người phóng viên trẻ còn phải tự quan sát, học kinh nghiệm của những người thợ ảnh và tập làm quen với chiếc máy quay bằng số phim vô cùng hạn chế.
Tổ quay phim được cử ra mặt trận chỉ có bốn người. Nguyễn Tiến Lợi là đội trưởng, đồng thời phụ trách quay chính; Nguyễn Ngọc Quỳnh và Nguyễn Quý Lục làm nhiệm vụ phụ quay; Nguyễn Văn Sinh, một thanh niên người Thái, phụ trách mang máy và bảo đảm công tác hậu cần.
Phương tiện quan trọng nhất của cả tổ là một chiếc máy quay Paillard Bolex dùng phim 16mm. Đây vốn là loại máy nhỏ thường được sử dụng để ghi hình gia đình hoặc các chuyến du lịch, không phải máy quay chuyên nghiệp dành cho chiến trường. Chiếc máy là quà của Liên đoàn Thanh niên quốc tế tặng phái đoàn Việt Nam tại Liên hoan Thanh niên và Sinh viên thế giới ở Berlin.
Tư liệu của Báo Nhân Dân cho biết tổ quay có khoảng 20 hộp phim, mỗi hộp dài 30m. Tổng cộng, họ chỉ có chừng 600m phim để ghi lại một chiến dịch kéo dài nhiều tháng. Trong điều kiện không thể xem lại ngay hình ảnh đã quay, mỗi lần bấm máy đều phải được cân nhắc cẩn thận. Một cảnh hỏng không chỉ làm mất phim mà còn có thể làm mất vĩnh viễn một khoảnh khắc lịch sử.
Tổ quay phim rời căn cứ, vượt qua những cung đường đã trở thành mục tiêu đánh phá thường xuyên. Họ đi qua đèo Lũng Lô, vượt Pha Đin rồi tiến vào khu vực vòng vây tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Máy quay, chân máy, hộp phim và hành lý được chia nhau mang theo trên những con đường dốc.
Đến mặt trận, tổ được bố trí đi cùng một đơn vị chiến đấu thuộc Đại đoàn 308. Họ không đứng ở một điểm quan sát an toàn từ phía sau. Muốn ghi được hình ảnh thật, người cầm máy phải theo bộ đội tới gần trận địa, đặt máy giữa những vị trí có thể bị pháo kích và quan sát từng hoạt động chuẩn bị chiến đấu.
Trước ống kính của Nguyễn Tiến Lợi và các cộng sự là hình ảnh bộ đội kéo những khẩu pháo nặng qua sườn núi. Những đôi chân bám vào đá sỏi, những sợi dây kéo căng và những gương mặt đẫm mồ hôi hiện lên trong từng khuôn hình. Tổ điện ảnh còn ghi lại cảnh công binh mở đường, bộ đội đào trận địa, dân công vận chuyển lương thực và các đơn vị pháo binh chuẩn bị khai hỏa.
Với Nguyễn Ngọc Quỳnh, nhiệm vụ của người phụ quay không chỉ là đứng bên cạnh người cầm máy. Ông phải quan sát chiến trường, hỗ trợ lựa chọn vị trí, bảo vệ phim, chuẩn bị máy móc và cùng đồng đội quyết định cảnh nào cần được ghi lại. Trong điều kiện tiếng pháo, bụi đất và những cuộc di chuyển liên tục, một thao tác chậm hoặc sai cũng có thể làm hỏng đoạn phim hiếm hoi.
Phim sống là một khó khăn đặc biệt. Nguồn phim phải được mua từ vùng tạm chiếm Hà Nội, Hải Phòng rồi bí mật chuyển ra căn cứ kháng chiến. Vì số lượng ít, tổ điện ảnh không thể quay dài và liên tục như những đoàn làm phim hiện đại. Họ phải kể cả một câu chuyện lớn bằng những đoạn phim ngắn, lựa chọn đúng thời điểm có giá trị nhất.
Khi chiến dịch bước vào giai đoạn quyết định, tổ quay tiếp tục theo sát các đơn vị. Họ ghi được hình ảnh chiến hào tiến dần vào các cứ điểm, bộ đội xung phong, tù binh được dẫn ra khỏi trận địa và nhân dân cùng chiến sĩ thu dọn chiến trường sau chiến thắng.
Ngày 8 tháng 5 năm 1954, một ngày sau khi tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bị đánh bại hoàn toàn, các nhà quay phim và nhiếp ảnh có mặt tại mặt trận cùng chụp một bức ảnh bên chiến hào. Trong bức ảnh ấy có những người đã dùng máy quay, máy ảnh để ghi lại lịch sử như Nguyễn Tiến Lợi, Nguyễn Hồng Nghi, Phan Trọng Quỳ, Nguyễn Ngọc Quỳnh, Nguyễn Đăng Bảy, Nguyễn Thụ, Nguyễn Như Ái và Nguyễn Phụ Cấn.
Công việc chưa kết thúc khi tiếng súng ngừng. Những cuộn phim được bảo vệ và chuyển về hậu phương để tráng, dựng. Khoảng nửa năm sau, dưới tán rừng Việt Bắc, các thước phim Điện Biên Phủ lần đầu tiên được chiếu cho công chúng. Với nhiều người xem khi ấy, đây là lần đầu họ được nhìn thấy bằng hình ảnh chuyển động những con người và công việc đã làm nên chiến thắng.
Bộ phim tài liệu về Điện Biên Phủ trở thành một trong những cột mốc đầu tiên của nền điện ảnh cách mạng Việt Nam. Phim không chỉ giúp người đương thời hiểu những gì đã diễn ra ở chiến trường mà còn để lại cho các thế hệ sau nguồn tư liệu trực tiếp về công tác hậu cần, pháo binh, chiến hào và đời sống người lính.
Sau Điện Biên Phủ, Nguyễn Ngọc Quỳnh tiếp tục theo đuổi điện ảnh tài liệu. Ông thực hiện nhiều tác phẩm về chiến tranh và đời sống đất nước. Hai bộ phim “Đầu sóng ngọn gió” và “Lũy thép Vĩnh Linh” được trao Huy chương Vàng tại Liên hoan phim quốc tế Moskva. Phim “Thành phố ngọn đèn” nhận bằng khen tại Liên hoan phim quốc tế Leipzig.
Ông qua đời năm 2010. Từ người thanh niên chỉ được học quay phim trong 15 ngày, Nguyễn Ngọc Quỳnh trở thành Nghệ sĩ Nhân dân và một trong những gương mặt tiêu biểu của điện ảnh tài liệu Việt Nam.
Ngày nay, những máy quay kỹ thuật số có thể ghi hình liên tục trong nhiều giờ và cho phép người quay xem lại kết quả ngay tại chỗ. Nhưng ở Điện Biên Phủ năm 1954, bốn con người chỉ có một chiếc máy 16mm cùng khoảng 600m phim. Họ phải vượt đèo, bám chiến hào và đối mặt với nguy hiểm để giữ lại từng khuôn hình.
Nhờ những người như Nguyễn Ngọc Quỳnh, Chiến thắng Điện Biên Phủ không chỉ được lưu lại trong văn bản và ký ức. Lịch sử còn hiện lên qua những đoàn dân công, những khẩu pháo đang được kéo lên dốc và những gương mặt người lính vừa bước ra khỏi chiến hào.



