Nguyễn Ngọc Xuân
Nhà cách mạng Nguyễn Ngọc Xuân là một trong những đại diện tiêu biểu cho trí tuệ và tinh thần cống hiến của thế hệ chiến sĩ đầu tiên, người đã đặt những viên gạch nền móng cho ngành Quân giới Việt Nam.
1. Xuất Thân Và Truyền Thống Gia Đình Nho Học
Ông Nguyễn Ngọc Xuân sinh năm 1902 tại thôn Ngọc Lập, xã Phùng Chí Kiên, huyện Mỹ Hào (nay là phường Đường Hào), tỉnh Hưng Yên, trong một gia đình giàu truyền thống Nho học và lòng yêu nước:
Hàng điệt (cháu): Của chí sĩ Cần vương Đỗ Uẩn (người từng đỗ cử nhân, giữ chức Tri phủ Tĩnh Gia - Thanh Hóa, Phó sứ Sơn phòng Nghệ An).
Cháu ruột: Của các nhà yêu nước Đỗ Cơ Quang (1878 - 1914) và Đỗ Thị Tâm (? - 1930).
Anh em họ: Với ông Đỗ Chu Tuấn (1919) — Đại biểu Quốc hội Khóa I; và ông Trần Xuân Độ (1894 - 1997) — Chính ủy đầu tiên của Quân khu 7 thời tướng Nguyễn Bình, sau này là Đại sứ Việt Nam tại Triều Tiên.
2. Hành Trình Giác Ngộ Lý Tưởng Cách Mạng
Thời kỳ làm thợ (1924): Ông ra Hà Nội theo học tại Trường Kỹ nghệ Hà Nội, sau đó làm thợ tại các xưởng Trường Thi, La Phù, và Phòng Thí nghiệm Khoáng chất Hóa học của chính quyền thực dân Pháp tại Hà Nội.
Hoạt động trong Việt Nam Quốc dân Đảng (1929): Ông gia nhập Việt Nam Quốc dân Đảng, được giao phụ trách in ấn tờ báo "Đường Cách mạng", đồng thời đảm nhiệm việc liên lạc và vận chuyển vũ khí mua được từ Hải Phòng lên.
Bước ngoặt trong lao tù: Trước Cách mạng Tháng Tám, ông bị thực dân Pháp bắt, xử tù chung thân và đày qua nhiều nhà tù khét tiếng như Côn Đảo, Hỏa Lò, căng Vụ Bản (Hòa Bình).
Trong thời gian bị giam giữ, ông nhận thấy Quốc dân Đảng dần chệch hướng so với lý tưởng ban đầu.
Đặc biệt, thời gian ở Côn Đảo, nhờ được tiếp xúc gần gũi với những người cộng sản, ông đã nảy sinh tình cảm rồi dần giác ngộ lý tưởng cộng sản.
3. Khởi Sức Sản Xuất Vũ Khí Phục Vụ Tổng Khởi Nghĩa
Chế tạo thuốc nổ (1936): Sau khi được thả tự do, dù vẫn bị quản thúc và theo dõi chặt chẽ tại quê nhà, ông đã tìm mọi cách bắt liên lạc với Đảng. Nhờ có kiến thức về công nghiệp và hóa chất, ông được tổ chức giao nhiệm vụ chế tạo một số vũ khí, lựu đạn. Ông tự học, mày mò nghiên cứu và chế thử thành công thuốc đen cùng phuy-mi-nát thủy ngân (một loại thuốc gợi nổ cực kỳ quan trọng trong sản xuất vũ khí).
Thành lập xưởng vũ khí bí mật (1944): Khi căn cứ Cao-Bắc-Lạng được thành lập, nhu cầu vũ khí chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa tăng cao. Xứ ủy Bắc Kỳ đã chỉ đạo khẩn trương xây dựng xưởng sản xuất vũ khí bí mật ở thị xã Bắc Ninh và giao nhiệm vụ cho ông cùng ông Ngô Gia Khảm chịu trách nhiệm thành lập xưởng này.
4. Tham Chính Và Gánh Vác Trọng Trách Ngành Quân Giới
Sau Cách mạng Tháng Tám, ông Nguyễn Ngọc Xuân trở về Hà Nội và đảm nhiệm nhiều chức vụ cốt cán của Nhà nước và Quân đội:
Ủy viên Chính phủ Lâm thời: Ông bất ngờ khi biết mình được bầu vào Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ông giữ chức vụ này suốt 181 ngày cho đến khi Chính phủ Liên hiệp chính thức ra mắt ngày 2/3/1946. Ông cũng là Đại biểu Quốc hội khóa I.
Lãnh đạo ngành Quân giới:
Ngày 15/9/1945: Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh thành lập ngành quân giới, ông được giao làm Chánh phòng quân giới, phụ trách thu mua vũ khí và tổ chức cơ sở sản xuất.
Ngày 25/3/1946: Bộ Quốc phòng được tổ chức lại theo sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông được bổ nhiệm làm Phó Cục trưởng Cục Quân giới kiêm Bí thư Đảng ủy.
Năm 1950: Ông giữ chức Phó Cục trưởng Cục Kỹ nghệ Quân giới.
Năm 1955: Ông chính thức được cử làm Cục trưởng Cục Quân giới.
5. Công Tác Tại Bộ Công Nghiệp Nặng Và Những Năm Cuối Đời
Năm 1959, ông Nguyễn Ngọc Xuân chuyển ngành sang dân sự và tiếp tục đóng góp cho nền công nghiệp nước nhà:
Phó ban chỉ huy công trường gang thép Thái Nguyên.
Cục trưởng Cục Cơ khí - Bộ Công nghiệp nặng (1960).
Trưởng ban Kiểm tra - Bộ Công nghiệp nặng (1962).
Năm 1981, ông Nguyễn Ngọc Xuân tạ thế, trọn vẹn một đời cống hiến sau gần 20 năm kiên cường chống chọi với di chứng của căn bệnh tai biến mạch máu não.



