Bài viết

Nguyễn Nhạc

Thái Đức Hoàng Đế

Nghệ An22/08/2026xã Dray Bhăng (Xã Dray Bhăng)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Nguyễn Nhạc
image.png

Thực ra, ở điểm xuất phát, Nguyễn Nhạc chính là linh hồn của phong trào Tây Sơn. Những dòng đầu tiên chép việc Tây Sơn trong “Khâm định Việt sử thông giám cương mục”, sử quan nhà Nguyễn đã giành để nói về Nguyễn Nhạc: “Tiên tổ Nguyễn Nhạc, người huyện Hưng Nguyên, xứ Nghệ An, khoảng năm Thịnh Đức (niên hiệu Lê Thần Tông, 1653 – 1657) bị quan quân ta bắt được đem về, cho ở tại huyện Tuy Viễn thuộc phủ Hoài Nhân, kế tiếp vài đời, đến Nguyễn Nhạc được giữ chức Biện lại ở tuần Vân Đồn. Vì đánh bạc tiêu mất tiền công, Nhạc bèn trốn vào Tây Sơn làm trộm cướp, những người vô lại và người nghèo đói phần nhiều phụ theo, vì thế thủ hạ có đến vài ngàn người”.

Đằng sau những dòng chữ này, dễ nhận thấy cái định kiến đầy khinh thị và sự ác cảm của sử quan nhà Nguyễn đối với nguồn gốc của “ngụy triều”. Nhưng có lẽ, cần phải hình dung vấn đề theo cách khác: Nguyễn Nhạc đã đứng về phía dân chúng, đã biết nương theo sự chống đối của dân chúng trước chế độ thuế má khắt khe; rồi bằng uy vọng với dân chúng, bằng thói quen tổ chức và óc chỉ huy của một “nậu nguồn” kỳ cựu trong nghề buôn trầu, ông đã tập hợp dân chúng lại để thực hiện mục đích của mình.

Trung tuần tháng 9 năm 1773, Nguyễn Nhạc đánh thành Quy Nhơn, rồi tiếp tục thừa thắng đánh rộng ra chiếm toàn bộ vùng Quảng Nam. Từ cuối 1773 đến giữa 1774, quân Tây Sơn và quân chúa Nguyễn liên tục đụng độ nhau, ăn miếng trả miếng, đất Quảng Nam bị giành đi giật lại giữa hai thế lực. Cái thế giằng co còn chưa đi đến ngã ngũ thì quân Trịnh do Hoàng Ngũ Phúc thống lĩnh kéo vào. Giáp mặt với Quận Việp một trận ở Cẩm Sa, Nguyễn Nhạc thua to. Nhưng rồi ông nhanh chóng đi một nước cờ khôn ngoan, là xin đầu hàng quân Trịnh.

Với vị thế là “tướng Trịnh”, Nguyễn Nhạc đã giải quyết trước mắt được mối đe dọa từ phía Bắc Hà. Kể từ đây, ông hoàn toàn có thể tập trung chỉnh đốn quân lực, từng bước thôn tính giang sơn Nam Hà của một chính quyền chúa Nguyễn đã quá ư rệu rã. Thực tế đã chứng minh: mặc cho Tây Sơn mấy lần “nhập khấu” - chữ của sử quan nhà Nguyễn - Gia Định, đánh cho quân chúa Nguyễn thất điên bát đảo, truy cùng bức tận Nguyễn Phúc Ánh và đám bề tôi vong gia thất thổ, quân Trịnh ở Bắc Hà vẫn im hơi lặng tiếng. Năm 1778, việc với chính quyền chúa Nguyễn coi như đã xong, Nguyễn Nhạc xây thành Chà Bàn, lên ngôi Hoàng đế, lấy hiệu là Thái Đức. Cho đến lúc này, cái lớp áo “tướng Trịnh” của Nguyễn Nhạc dĩ nhiên không cần xé mà nó đã tự rách. Hơn thế nữa, ông còn một vấn đề phải “giải quyết” với chính quyền Bắc Hà: đó là đất Thuận Hóa, đất cũ của Nam Hà đã lọt vào tay chúa Trịnh kể từ khi Hoàng Ngũ Phúc dẫn quân Nam chinh năm 1774. Tháng 5 năm 1786, Long Nhương tướng quân Nguyễn Huệ trổ tài dụng binh, thu phục Thuận Hóa, thoả lòng mong mỏi của Thái Đức Hoàng đế Nguyễn Nhạc: toàn bộ Nam Hà đã thuộc về ông. Nhưng tới đây thì lịch sử sang trang, vai trò tiên phong trong ngọn triều Tây Sơn của Nguyễn Nhạc đã phải chuyển giao người em Nguyễn Huệ.

Cái đích chót cùng của Nguyễn Nhạc là ngôi tôn quân chí thượng, nhưng tham vọng cai trị của ông chỉ đóng khung trong lãnh thổ Nam Hà mà thôi. Chính vì vậy, khi chiếm được Thuận Hóa, ông lập tức cho xây lại lũy Thầy với mục đích duy trì cái thế phân liệt Nam - Bắc thành hai chính quyền, hai quốc gia giống như Trịnh - Nguyễn trước kia. Nhưng Nguyễn Huệ, ở cái lúc ngoại tam tuần (33 tuổi) cương cường đầy phấn khích, và thực tế là chưa hề biết mùi thua trận, thì không nghĩ như vậy. Được sự tham mưu của Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Huệ từ Thuận Hóa thừa thắng kéo quân ra Bắc, đánh thốc vào Thăng Long, đập tan cơ đồ mấy trăm năm của chúa Trịnh. Ngay cả kết quả tuyệt vời ấy cũng không làm “giãn nở” tham vọng của Nguyễn Nhạc. Ông cũng ra Bắc sau đó, nhưng là vì mục đích khác: làm đạo quân tiếp ứng, mà thực ra là để xem xét kiềm chế Nguyễn Huệ. Trên đường lật đật ra Bắc, khi Nguyễn Nhạc gặp ở Nghệ An một đám dân quê khúm núm dâng lễ vật, gọi “quan lớn”, ông gạt đi: “Tôi không phải quan lớn. Tôi là họ ngoại của chúa Nam Hà vẫn quen gọi là biện Nhạc đây” (Hoàng Lê nhất thống chí).

Câu nói đó có nghĩa gì? Một ông Hoàng đế “bình dân”, hay là với đất Bắc ông luôn có mặc cảm của một kẻ bố y không dám vượt phận? Khả năng thứ hai cao hơn, và nó được chứng minh bằng câu trả lời “thật thà như đếm” của Nguyễn Nhạc khi vua Lê xin được cắt đất để khao quân (Tây Sơn): “Nếu đất đai không phải của nhà Lê thì một tấc tôi cũng không để, nhưng nếu là đất của nhà Lê thì một tấc tôi cũng không lấy” (KĐVSTGCM). Trong khi đó, ta hãy xem thử Nguyễn Huệ nghĩ gì lúc vua Lê sách phong cho ông chức Nguyên soái phù chính dực vận Uy quốc công: “Ta cầm vài vạn quân đánh một trận mà bình định được Bắc Hà, một tấc đất, một người dân đều là của ta, nếu muốn xưng đế hay xưng vương việc gì mà ta không làm được? Còn như sắc mệnh nguyên soái quốc công đối với ta có hơn kém gì?” (KĐVSTGCM). Rõ ràng, với viên chiến tướng có tầm nhìn xa như Nguyễn Huệ, việc ông chưa hành động chỉ là vì thời điểm chưa tới, và cũng bởi chiêu bài “phù Lê” mà ông dựa vào để động binh vẫn còn sức mạnh ràng buộc. Ba năm sau, năm 1789, sự thể sẽ rất khác.

Từ chuyến Bắc phạt này, vết rạn nứt trong quan hệ anh em Nguyễn Nhạc - Nguyễn Huệ đã xuất hiện và ngày một thêm trầm trọng. Nguyễn Nhạc, như đã nói ở trên, chỉ cần được làm vua trên đất của “họ ngoại” Nam Hà là đủ. Còn Nguyễn Huệ thì không nửa vời như vậy: chuyến ra Bắc đã cho ông thấy tận mắt, dưới những dấu vết đổ nát, một vùng đất tràn trề sinh lực, của cải phong phú mà ông hoàn toàn có thể làm chủ.

Trở về Nam, Nguyễn Huệ dừng lại ở Phú Xuân với đội quân Bắc phạt của mình chứ không về Quy Nhơn cùng Nguyễn Nhạc như những lần đánh Gia Định trước kia. “Hoàng Lê nhất thống chí” đã mượn lời của Nguyễn Hữu Chỉnh tâu với vua Lê để nói cụ thể về phản ứng của Nguyễn Huệ: “Vua Tây (tức Nguyễn Nhạc) từ khi về Nam thì kéo về luôn quốc thành, còn thượng công (tức Nguyễn Huệ) thì ở Phú Xuân, nghỉ quân mua vui, hoặc là ban bố mệnh lệnh, sửa sang thành luỹ, bao nhiêu quân tướng, khí giới, các vật báu lấy được ở Bắc đem về, thượng công đều chứa vào một chỗ, vua Tây cho người ra vời, thượng công cũng không chịu vào chầu. Rồi thì phong quan ban chức, thượng công đều tự quyết định, không hỏi gì đến vua Tây”. Tháng 2 năm 1787, Nguyễn Huệ tấn công thành Quy Nhơn. Quân của ông em chiến đấu dũng mãnh và thiện chiến đến mức chẳng mấy chốc mà ông anh phải lên mặt thành, khóc lóc ỉ ôi kêu gọi tình máu mủ ruột rà, xin giải vây. Một “hiệp định bất tương xâm” có lẽ đã được thảo ra, theo đó Bến Ván trở thành địa giới ngăn cách đất của Bắc Bình vương Nguyễn Huệ và Thái Đức Hoàng đế Nguyễn Nhạc, còn “chú Bảy” Nguyễn Lữ thì được đất Gia Định với tước Đông Định vương.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn