Nguyễn Nhạc
Nguyễn Nhạc (1743 – 1793), còn gọi là Nguyễn Văn Nhạc, là vị hoàng đế sáng lập nhà Tây Sơn. Ông cùng hai người em trai là Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ được người đời tôn vinh là "Tây Sơn tam kiệt" nổi danh vào thời bấy giờ.
Về gốc tích dòng họ, các bộ chính sử của triều Bắc Hà lẫn triều Nguyễn như Đại Việt sử ký tục biên, Hoàng Lê nhất thống chí, Đại Nam thực lục tiền biên, Đại Nam chính biên liệt truyện, và Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục đều ghi nhận các thủ lĩnh Tây Sơn thuộc họ Nguyễn, song không chép rõ tổ tiên đời trước.
Các nghiên cứu hiện đại thống nhất với giả thuyết dòng họ này vốn là họ Hồ ở làng Hương Cái, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Vào năm 1655, trong cuộc chiến tranh Trịnh – Nguyễn, quân Nguyễn đánh ra Nghệ An và đã di dời tổ tiên của ông vào miền Nam lập nghiệp.
Cụ cố của Nguyễn Nhạc là Hồ Phi Long vào làm việc cho nhà họ Đinh ở thôn Bằng Chân, huyện Tuy Viễn (nay thuộc An Nhơn, Bình Định), cưới vợ họ Đinh và sinh ra Hồ Phi Tiễn. Hồ Phi Tiễn sau đó di cư đến ấp Tây Sơn buôn trầu, kết duyên cùng bà Nguyễn Thị Đồng – con gái một phú thương đất Phú Lạc. Vì bà Đồng là con một, Hồ Phi Tiễn quyết định đổi họ của các con từ họ Hồ sang họ Nguyễn của mẹ. Người con trai là Nguyễn Phi Phúc tiếp tục nghề buôn trầu trứ danh và làm ăn phát đạt, sinh hạ được 8 người con, trong đó ba người con trai xuất chúng là Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ.
Lớn lên, ba anh em thụ giáo cả văn lẫn võ với thầy Trương Văn Hiến – một môn khách của Thái phó Trương Văn Hạnh (người bị quyền thần Trương Phúc Loan sát hại tại Phú Xuân). Thầy Hiến trốn về Tây Sơn mai danh ẩn tích, phát hiện ra tài năng dị thường của anh em họ Nguyễn và hết lòng khuyên họ khởi nghĩa dựng đại nghiệp, ứng vào câu sấm truyền: "Tây khởi nghĩa, Bắc thu công".
Trong những năm đầu, Nguyễn Nhạc là linh hồn của phong trào. Thuở hàn vi, ông từng đi buôn trầu nên dân gian gọi là Hai Trầu; sau làm chức biện lại (giữ việc thu thuế, giấy tờ) tại địa phương nên còn gọi là Biện Nhạc.
(Các bộ sử triều Nguyễn như Đại Nam thực lục cố tình bôi nhọ Nguyễn Nhạc khi chép rằng ông được chúa Nguyễn giao việc thu thuế nhưng đem tiền đi đánh bạc thua hết, cùng đường mới nổi dậy làm "trộm cướp". Giới sử học hiện đại khẳng định đây hoàn toàn là dụng ý hạ thấp uy tín đối thủ của sử thần nhà Nguyễn sau khi thắng trận. Một cuộc đại khởi nghĩa lật đổ các tập đoàn phong kiến lớn phải được mưu tính, chuẩn bị kỹ lưỡng về căn cứ, lương thực và lòng dân từ rất lâu, không thể là hành vi bột phát từ một con bạc vỡ nợ)
Phất Cờ Khởi Nghĩa Và Mưu Kế Hạ Thành Quy Nhơn
Nửa cuối thế kỷ XVIII, chính sự Đàng Trong dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát và Nguyễn Phúc Thuần suy đồi nghiêm trọng. Hệ thống thuế khóa cồng kềnh, nặng nề, quan lại tham nhũng hoành hành, đặc biệt là quyền thần Trương Phúc Loan thao túng triều chính, khiến lòng dân oán hận thấu xương.
Nhận thấy thời cơ đã chín muồi, năm 1771, Nguyễn Nhạc cùng các em chính thức lập chiến khu tại ấp Tây Sơn. Để thu phục lòng dân Đàng Trong, ông khôn khéo sử dụng khẩu hiệu: chống lại quyền thần Trương Phúc Loan, ủng hộ Vương tôn Nguyễn Phúc Dương (cháu đích tôn hợp pháp của Vũ vương Nguyễn Phúc Khoát nhưng bị Loan gạt ra để lập chúa nhỏ Nguyễn Phúc Thuần). Quân Tây Sơn khi xung trận thường reo hò rầm trời, dân gian thời đó có câu:
"Binh triều là binh Quốc phó
Binh ó là binh Hoàng tôn."
Lực lượng nghĩa quân lớn mạnh nhanh chóng nhờ sự tham gia của đông đảo người Kinh, người Thượng và cả các thương nhân người Hoa (như Tập Đình, Lý Tài). Sự hỗ trợ tài chính từ phú thương Huyền Khê tại Quy Nhơn đã giúp Nguyễn Nhạc sắm sửa vũ khí và lương thảo dồi dào. Năm 1773, phong trào có bước ngoặt lớn khi Nguyễn Nhạc quyết định đánh chiếm thành Quy Nhơn – trọng trấn của Nam Trung Bộ.
Để hạ thành, Nguyễn Nhạc đã vận dụng một mưu kế vô cùng táo bạo: Ông tự ngồi vào một chiếc cũi tre, sai quân lính giả làm bộ hạ phản biến, khiêng cũi đến nộp cho tuần phủ nhà Nguyễn là Nguyễn Khắc Tuyên để nhận thưởng. Tướng giữ thành không mảy may nghi ngờ, cho áp giải chiếc cũi vào đại bản doanh. Đến nửa đêm, Nguyễn Nhạc được quân trá hàng mở cũi thoát ra, phối hợp cùng đại quân Tây Sơn từ bên ngoài ùa vào đánh úp. Thành Quy Nhơn thất thủ, Nguyễn Khắc Tuyên bỏ chạy tháo thân. Từ bàn đạp này, nghĩa quân thừa thắng xông lên, quét sạch quân Nguyễn tại Quảng Ngãi, Phú Yên, Diên Khánh, Bình Khang và Bình Thuận.
Tình Thế Lưỡng Đầu Thọ Địch Và Sách Lược "Hòa Bắc Đánh Nam"
Năm 1774 – 1775, phong trào Tây Sơn rơi vào tình thế nguy hiểm nhất từ khi khởi sự. Ở phía Nam, chúa Nguyễn cử đại tướng Tống Phúc Hiệp từ Gia Định đánh ra, nhanh chóng chiếm lại Bình Thuận, Diên Khánh, Bình Khang. Ở phía Bắc, nhân cơ hội Đàng Trong lục đục, chúa Trịnh Sâm cử lão tướng Việp quận công Hoàng Ngũ Phúc mang 3 vạn quân vượt sông Gianh đánh chiếm Phú Xuân, rồi tiếp tục tràn qua đèo Hải Vân đánh thẳng vào Quảng Nam.
Nguyễn Nhạc đem quân ra chống cự quân Trịnh ở Quảng Nam nhưng bị Hoàng Ngũ Phúc đánh bại trong trận Cẩm Sa (tháng 2/1775). Tướng người Hoa Tập Đình bỏ trốn về Trung Quốc, còn Nguyễn Nhạc phải co cụm về giữ Quy Nhơn. Cùng lúc đó, Tống Phúc Hiệp ép từ Phú Yên ra. Lãnh thổ Tây Sơn bị kẹp giữa gọng kìm Trịnh – Nguyễn, nguy cơ bị tiêu diệt hoàn toàn hiển hiện.
Trong thế ngàn cân treo sợi tóc, Nguyễn Nhạc đã đưa ra một quyết định chiến lược thiên tài: Hòa Bắc đánh nam. Nhận thấy tiềm lực của quân Trịnh quá mạnh, ông sai sứ mang lễ vật đến doanh trại Hoàng Ngũ Phúc xin hàng, tự nguyện làm tiên phong cho quân Trịnh để đánh chúa Nguyễn. Hoàng Ngũ Phúc vốn đi chinh chiến xa nhà, quân sĩ mệt mỏi, lại muốn mượn tay Tây Sơn diệt họ Nguyễn nên đã chấp thuận, thay mặt chúa Trịnh phong cho Nguyễn Nhạc chức Tây Sơn trưởng hiệu tráng tiết tướng quân, trao cờ và ấn kiếm.
Sau khi tạm yên mặt Bắc, Nguyễn Nhạc lập tức dồn toàn lực vào mặt Nam. Ông cử người em trai lúc đó mới 23 tuổi là Nguyễn Huệ làm chủ tướng tiến đánh Phú Yên. Bằng tài thao lược xuất chúng, Nguyễn Huệ đánh tan quân Tống Phúc Hiệp tại Phú Yên, ổn định lại cục diện miền Trung. Lão tướng Hoàng Ngũ Phúc thấy Nguyễn Huệ thắng trận bèn dừng quân ở Quảng Ngãi không dám lấn tới, sau đó vì tuổi già sức yếu đã rút đại quân về Bắc và qua đời dọc đường. Nguy cơ phía Bắc hoàn toàn bị loại bỏ.
Bình Định Gia Định Và Lên Ngôi Hoàng Đế (1776 – 1783)
Để dứt điểm tập đoàn chúa Nguyễn, từ năm 1776 đến năm 1783, Nguyễn Nhạc liên tục mở các chiến dịch nam tiến vào Nam Bộ (Gia Định):
- Lần thứ nhất (1776): Nguyễn Lữ chỉ huy quân thủy chiếm được Gia Định, thu giữ kho tàng rồi rút về.
- Lần thứ hai (1777): Nguyễn Nhạc cử Nguyễn Huệ vào Gia Định. Quân Tây Sơn đánh bại các cánh quân của chúa Nguyễn và tướng người Hoa Lý Tài. Trong chiến dịch này, Nguyễn Huệ lập kỳ tích bắt sống và xử tử cả Tân chính vương Nguyễn Phúc Dương và Thái thượng vương Nguyễn Phúc Thuần. Chỉ duy nhất người cháu dòng thứ là Nguyễn Ánh trốn thoát.
- Lên ngôi Hoàng đế (1778): Sau khi làm chủ dải đất từ Quảng Nam đến Hà Tiên, năm 1778, Nguyễn Nhạc chính thức lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Thái Đức, đóng đô tại thành Đồ Bàn cũ (đổi tên thành Hoàng Đế thành), tuyên bố đoạn tuyệt hoàn toàn với cả nhà Hậu Lê lẫn chúa Trịnh. Ông phong Nguyễn Huệ làm Long Nhương tướng quân, Nguyễn Lữ làm Tiết chế, cùng hệ thống các tướng lĩnh cốt cán như Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng, Bùi Thị Xuân...
- Lần thứ ba và thứ tư (1782 – 1783): Nguyễn Ánh nhờ sự giúp sức của các lực lượng phương Tây quay trở lại chiếm Gia Định. Vua Thái Đức cùng Nguyễn Huệ tiếp tục thân chinh nam tiến, đánh tan các tuyến phòng thủ của Nguyễn Ánh. Nguyễn Ánh bị truy kích ráo riết khắp các vùng biển đảo Phú Quốc, Thổ Chu, cuối cùng phải trốn sang Xiêm La (Thái Lan) cầu viện.
Khai Phá Bắc Hà Và Đỉnh Cao Quyền Lực
Năm 1786, sau khi Nguyễn Huệ đánh bại liên quân Xiêm – Nguyễn trong trận Rạch Gầm – Xoài Mút vĩ đại, toàn bộ phương Nam được định đoạt. Nhận thấy chúa Trịnh ở Bắc Hà suy yếu sau vụ kiêu binh biến loạn, danh tướng Nguyễn Hữu Chỉnh (cựu thần họ Trịnh sang hàng Tây Sơn) khuyên nên đánh Phú Xuân rồi thừa thắng ra Bắc. Vua Thái Đức tán thành, cử Nguyễn Huệ làm Tổng chỉ huy bắc tiến.
Tuy nhiên, sau khi hạ thành Phú Xuân, Nguyễn Huệ đã tự ý mang quân ra đánh thẳng vào Thăng Long dưới khẩu hiệu "Phù Lê diệt Trịnh" mà không xin mệnh lệnh từ vua anh. Chỉ trong thời gian ngắn, họ Trịnh bị tiêu diệt hoàn toàn. Nguyễn Huệ đến yết kiến vua Lê Hiển Tông và được gả Công chúa Lê Ngọc Hân.
Nghe tin em trai tự ý ra Bắc, vua Thái Đức vô cùng lo sợ thế lực của Nguyễn Huệ vượt tầm kiểm soát, liền vội vã từ Quy Nhơn thân chinh ra Thăng Long. Tại đây, ông gặp gỡ vua mới nhà Lê là Lê Chiêu Thống. Khi nhà Lê ngỏ ý cắt đất Nghệ An để đền ơn, vua Thái Đức đã khẳng khái từ chối:
“Tôi tức giận nhà Lê bị họ Trịnh áp chế nên đứng ra tôn phò. Nếu đất đai không phải của nhà Lê thì một tấc tôi cũng không để. Nhưng nếu là của nhà Lê, một tấc tôi cũng không lấy".
Đêm ngày 17 tháng 8 năm 1786, Nguyễn Nhạc cùng Nguyễn Huệ bí mật rút đại quân về Nam, để lại Nguyễn Hữu Chỉnh trấn giữ trấn thủ Nghệ An.
Anh Em Bất Hòa Và Hệ Lụy Mất Nam Bộ
Sau chuyến bắc tiến năm 1786, mâu thuẫn âm ỉ giữa hai anh em Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ chính thức bùng nổ thành xung đột vũ trang vào đầu năm 1787.
(Sử thần nhà Nguyễn cố ý thêu dệt chuyện Nguyễn Nhạc "thông dâm với vợ Nguyễn Huệ". Các sử gia ngày nay chỉ ra điều này phi lý vì vợ Nguyễn Huệ ở Phú Xuân, còn Nguyễn Nhạc ở Quy Nhơn, cách trở địa lý không thể xảy ra chuyện đó. Nguyên nhân thực sự xuất phát từ mâu thuẫn quyền lực và đất đai: Nguyễn Nhạc trách Nguyễn Huệ tự ý ra Bắc, yêu cầu nộp bớt vàng bạc của họ Trịnh nhưng Huệ không chịu; đồng thời Nguyễn Huệ xin cai quản thêm đất Quảng Nam nhưng vua anh từ chối)
Nguyễn Huệ đem 6 vạn quân nam tiến, vây chặt thành Quy Nhơn và nã pháo dữ dội. Bị dồn vào thế bí, vua Thái Đức phải lên mặt thành khóc lớn, gọi em mà phân trần: "Nồi da xáo thịt, lòng em sao nỡ?". Nguyễn Huệ mủi lòng, đồng ý rút quân giảng hòa.
Tháng 4 năm 1787, Nguyễn Nhạc tự xưng là Trung ương Hoàng đế, chia đất nước thành ba cõi để phong vương cho các em, chính thức phong kiến hóa phong trào Tây Sơn:
- Nguyễn Lữ: Phong làm Đông Định Vương, cai quản vùng đất Gia Định.
- Nguyễn Huệ: Phong làm Bắc Bình Vương, cai quản vùng đất từ đèo Hải Vân trở ra Bắc.
- Vua Thái Đức: Trực tiếp quản lý vùng trung tâm Quy Nhơn, Quảng Ngãi, Phú Yên.
Sự chia rẽ sâu sắc này tạo cơ hội vàng cho Nguyễn Ánh.
Tháng 7 năm 1787, Nguyễn Ánh từ Xiêm La dẫn quân về đánh chiếm lại Gia Định. Đông Định vương Nguyễn Lữ nhu nhược, chưa đánh đã bỏ chạy về Quy Nhơn rồi lâm bệnh qua đời. Một mình tướng Phạm Văn Tham đơn độc chống giữ Gia Định nhưng không nhận được viện binh kịp thời từ vua Thái Đức. Đến năm 1789, thành Gia Định hoàn toàn rơi vào tay Nguyễn Ánh, bờ cõi phương Nam của Tây Sơn chính thức sụp đổ. Lúc này, Nguyễn Huệ bận đối phó với 29 vạn quân Thanh ở Bắc Hà nên không thể đem quân cứu viện miền Nam.
Năm 1788, nhận thấy thế lực của mình hoàn toàn lép vế trước người em Bắc Bình vương (lúc này đã lên ngôi Hoàng đế Quang Trung), Nguyễn Nhạc tuyên bố từ bỏ đế hiệu, tự hạ xuống xưng là Tây Sơn vương, giao lại toàn bộ quyền lực lãnh thổ phía Bắc và miền Trung cho Quang Trung, chỉ xin giữ lại một phủ Quy Nhơn để dưỡng già.
Sau khi đại thắng quân Thanh (1789), Hoàng đế Quang Trung quyết tâm tập trung lực lượng tiêu diệt Nguyễn Ánh để thống nhất đất nước. Năm 1792, Quang Trung chủ động hòa hoãn với nhà Thanh, đóng hàng loạt chiến thuyền lớn, phối hợp với kế hoạch chuẩn bị nam tiến của vua anh Nguyễn Nhạc tại cửa biển Thi Nại. Kế hoạch phối hợp tác chiến ba đường thủy bộ vô cùng quy mô đã được vạch sẵn, hứa hẹn sẽ tận diệt lực lượng Nguyễn Ánh.
Tuy nhiên, vào tháng 9 năm 1792, Hoàng đế Quang Trung đột ngột băng hà. Chỗ dựa quân sự lớn nhất của nhà Tây Sơn sụp đổ, kế hoạch vĩ đại mãi mãi dở dang.
Năm 1793, nhân lúc nội bộ nhà Tây Sơn triều đình Phú Xuân (vua nhỏ Quang Toản – Cảnh Thịnh) nghi kỵ lẫn nhau, Nguyễn Ánh xua quân ra vây hãm thành Quy Nhơn. Vua Thái Đức lúc này đã già yếu, đau ốm liên miên, không thể ra trận, đành sai con là Nguyễn Quang Bảo ra cự địch. Thành bị vây ngặt suốt 3 tháng, Nguyễn Nhạc phải muối mặt viết thư cầu viện cháu ruột là Quang Toản.
Quang Toản sai các tướng Ngô Văn Sở, Phạm Công Hưng mang đại quân vào giải vây. Quân Nguyễn Ánh thấy viện binh Phú Xuân quá mạnh bèn chủ động rút lui. Thế nhưng, bi kịch đau đớn nhất cuộc đời nhà sáng lập Tây Sơn diễn ra ngay sau đó: Sau khi vào thành, cậy thế lệnh của vua thiếu niên Quang Toản, tướng Phạm Công Hưng không những không rút đi mà lập tức chiếm đóng các cứ điểm, tiến hành tịch biên kho tàng, kê biên tài sản tích cóp cả đời của Nguyễn Nhạc nhằm sáp nhập Quy Nhơn vào triều đình Phú Xuân.
Nhìn thấy cơ đồ, của cải bao năm xương máu của mình bị chính đứa cháu ruột tước đoạt một cách phũ phàng, Nguyễn Nhạc uất hận tột cùng, lên cơn bạo bệnh, ho ra máu mà qua đời vào cuối năm 1793. Ông ở ngôi tổng cộng 15 năm (1778 – 1793).
Cái chết của Nguyễn Nhạc kéo theo sự suy sụp hoàn toàn của vương triều. Con trai ông là Nguyễn Quang Bảo bị triều đình Cảnh Thịnh tước quyền, an trí ra huyện Phù Ly (gọi là Tiểu triều). Không cam chịu nhục nhã, năm 1799, Quang Bảo nổi dậy chiếm lại thành Quy Nhơn và định hàng Nguyễn Ánh để trả thù. Song quân Nguyễn chưa tới nơi thì quân Phú Xuân đã ập vào hạ thành, bắt và giết chết Quang Bảo.
Năm 1802, Nguyễn Ánh đánh bại hoàn toàn nhà Tây Sơn, lên ngôi hoàng đế lấy hiệu Gia Long. Để trả thù vết thương sâu sắc mà nhà Tây Sơn đã gây ra cho gia tộc mình, Gia Long đã thực hiện cuộc trả thù tàn khốc: Sai người đào mộ của cả Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ, giã hài cốt thành bột, còn hộp sọ thì bị bỏ vào vò giam cầm vĩnh viễn trong ngục thất.



