NGUYỄN NHƯ KHUÊ (1917 - 1940)
Xích Việt là bí danh của đồng chí Nguyễn Như Khuê, một đảng viên cộng sản kiên trung, sinh năm 1917, trong một gia đình tiểu thương nghèo, tại xã Phú Xuân, tổng An Hòa, phủ Tam Kỳ, nay là xã Tam Quang, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Gia đình có 3 anh em, đồng chí Nguyễn Như Khuê là con trai đầu, em trai kế là Nguyễn Tưởng, em gái út là Nguyễn Thị Tư. Cả hai người em cũng hy sinh anh dũng trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.
Năm 1933, Nguyễn Như Khuê bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng và với những hoạt động sôi nổi, hăng hái của mình, năm 1935, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Không bao lâu sau khi được kết nạp vào Đảng thì phong trào cách mạng ở Quảng Nam bị địch đánh phá nhưng Nguyễn Như Khuê thoát được bàn tay của mật thám Pháp.
Năm 1936, Mặt trận Bình dân Pháp thắng cử lên nắm chính quyền, thi hành một số chính sách tiến bộ ở các nước thuộc địa. Cho nên, lúc này chủ trương của Đảng là đấu tranh công khai đòi tự do, dân chủ, cơm áo, hòa bình. Ở Quảng Nam, cuối năm 1936, nhiều anh em tù nhân bị bắt giam cầm trước đó được ra tù và nhanh chóng liên lạc với các đồng chí còn lại bên ngoài để củng cố tổ chức Đảng và quần chúng. Cũng như cả tỉnh, từ năm 1936, ở phủ Tam Kỳ (nay là thành phố Tam Kỳ, huyện Núi Thành, huyện Phú Ninh) việc khôi phục, củng cố tổ chức Đảng và các tổ chức quần chúng được tiến hành khẩn trương.
Đầu năm 1937, theo sự phân công của đồng chí Trần Học Giới, Tỉnh ủy viên, đồng chí Nguyễn Như Khuê làm Thư ký cho hiệu thuốc tây của ông Đặng Đình Nam ở nội ô Tam Kỳ, đồng thời đảm nhiệm việc liên lạc với ông Dinh Ngô tại mỏ vàng Bồng Miêu để nắm tình hình anh em công nhân, gây dựng cơ sở cách mạng. Nhận thấy điều kiện đã chín muồi, tháng 3 năm 1937, đồng chí Trần Học Giới đã chủ trì cuộc họp để bàn việc lập lại Phủ ủy. Cuộc họp đã thống nhất thành lập lại Phủ ủy Tam Kỳ do đồng chí Nguyễn Phùng (Út Thống) làm Bí thư. Với uy tín, thành tích và hoạt động sôi nổi trong giai đoạn thoái trào để bảo tồn lực lượng và giữ vững phong trào cách mạng của mình, đồng chí Nguyễn Như Khuê được bầu vào Phủ ủy Tam Kỳ.
Trách nhiệm mới tuy vinh quang nhưng rất nặng nề và đồng chí Nguyễn Như Khuê không phụ lòng tin của đồng đội, tích cực trong công tác xây dựng Đảng, phát triển các tổ chức quần chúng. Do những hoạt động tích cực đó, đồng chí bị thực dân Pháp bắt giam ở nhà lao Hội An, nhưng do không nắm được chứng cứ nên chúng buộc phải trả tự do.
Để nâng cao trình độ lý luận chính trị và nắm vững phương pháp công tác cho đội ngũ cán bộ địa phương, năm 1938, Phủ ủy Tam Kỳ cử đồng chí Nguyễn Như Khuê cùng một số đồng chí như Võ Toàn (Võ Chí Công), Đào Thuần Thăng, Trần Quang Huy... đi dự lớp huấn luyện tại An Cựu (Thừa Thiên) do Xứ ủy Trung Kỳ tổ chức; đồng chí Lê Duẩn và Phan Đăng Lưu đảm nhiệm công việc giảng dạy. Sau khóa học này, khả năng công tác của đồng chí Nguyễn Như Khuê nâng lên rõ rệt, được Phủ ủy Tam Kỳ đánh gía cao.
Tháng 02 năm 1939, Phủ ủy Tam Kỳ họp tại của biển Hiệp Hòa1, bầu Ban Phủ ủy chính thức, đồng chí Nguyễn Phùng được bầu làm Bí thư Phủ ủy, đồng chí Nguyễn Như Khuê được bầu làm Phủ ủy viên. Lúc này, vùng phía Nam phủ Tam Kỳ, nhất là hai tổng Đức Hòa và An Hòa, phong trào phát triển mạnh, nơi đây còn tiếp giáp với tỉnh Quảng Ngãi – địa phương có phong trào cách mạng đang lên, nên đã trở thành cơ sở an toàn cho các đồng chí trong Phủ ủy, Tỉnh ủy hoạt động.
Ngay sau Hội nghị Phủ ủy, đồng chí Nguyễn Như Khuê và đồng chí Khưu Thúc Cự được phân công đi dự Hội nghị Tỉnh ủy họp tại hang núi ở Trà Kiệu, phủ Duy Xuyên. Hội nghị chủ trương củng cố lại tổ chức và đề ra một số nhiệm vụ, công tác trước mắt với sự tham dự của đại biểu các đảng bộ Tam Kỳ, Duy Xuyên, Hội An, Đà Nẵng, Điện Bàn và Đại Lộc. Trên cơ sở báo cáo tình hình công tác Đảng, công tác xây dựng các tổ chức quần chúng và phong trào đấu tranh trong thời gian qua, Hội nghị đã đề ra một số nhiệm vụ cấp bách trước mắt như củng cố tư tưởng đảng viên và quần chúng sau đợt chống thuế lần thứ hai, phát triển các tổ chức thanh niên dân chủ, hội phụ nữ tân tiến và các tổ chức biến tướng. Hội nghị bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Nam, do đồng chí Nguyễn Đức Thiệu làm Bí thư, đồng chí Nguyễn Như Khuê được bầu làm Tỉnh ủy viên.
Trở lại Tam Kỳ cũng là lúc bọn cai trị tại đây mở hội chợ nhằm khoa trương chế độ thuộc địa, đồng thời qua đó phát hiện phong trào hoạt động công khai của ta. Lợi dụng âm mưu này của địch, đồng chí Trần Học Giới, Tỉnh ủy viên đang được phân công hoạt động bí mật ở Tam Kỳ cùng đồng chí Nguyễn Như Khuê và một số đồng chí trong Phủ ủy chủ trương mở gian hàng tại hội chợ để tập hợp quần chúng và vẫn giữ cho được bí mật.
Bên cạnh tham gia tổ chức gian hàng tại hội chợ, đồng chí Nguyễn Như Khuê còn liên lạc và giới thiệu các đảng viên, cơ sở hoạt động bí mật tại Tam Kỳ, Quế Sơn cho đồng chí Trần Học Giới để bắt nối và chỉ đạo hoạt động.
Ngày 14 tháng 7 năm 1939, thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, Phủ ủy Tam Kỳ tổ chức kỷ niệm ngày cách mạng Tư sản Pháp (14/7/1789 - 14/7/1939) nhằm phát động phong trào cách mạng trong phủ, tiếp tục đấu tranh đòi quyền lợi về dân sinh, dân chủ, chống chế độ thống trị của thực dân Pháp và bọn vua quan Nam triều, chống chiến tranh đế quốc, phát huy ảnh hưởng của Đảng trong nhân dân. Địa điểm mítting tại Núi Chùa, Quảng Phú (nay là xã Tam Phú, thành phố Tam Kỳ). Tại cuộc miting này, đồng chí Nguyễn Như Khuê đã cùng với đồng chí Trần Học Giới, Lê Trọng Nghĩa đảm nhận công tác chuẩn bị nội dung diễn thuyết. Cuộc mít tinh thu hút khá đông nhân dân đến dự, bọn mật thám và chính quyền địa phương vô cùng tức tối cho nên chỉ mười ngày sau, đích thân tên Reynand, chánh mật thám cùng với tên Nghè Đào đưa lính về Tam Kỳ truy bắt hầu hết các đồng chí lãnh đạo buổi diễn thuyết. Sau đó, chúng tuyên án đồng chí Trần Học Giới, người cầm đầu 1 năm tù, các đồng chí Nguyễn Như Khuê, Võ Sạ, Khưu Thúc Cự, Lê Trọng Nghĩa mỗi người 6 tháng tù giam, một số khác 3 tháng tù treo; còn đối với các giáo viên tham gia mitting không bị kết án nhưng chúng không cho dạy nữa, buộc nhiều đồng chí phải lẫn tránh đi nơi khác để tiếp tục gây dựng cơ sở để hoạt động như đồng chí Phan Thêm.
Trước tình hình đó, đầu tháng 9 năm 1939, Phủ ủy Tam Kỳ triệu tập cuộc họp mở rộng tại trảng Bà Mù (nay thuộc xã Tam Hiệp, huyện Núi Thành) nhằm bàn kế hoạch ổn định tư tưởng cho đảng viên và quần chúng, kiểm điểm tình hình, rút kinh nghiệm cuộc mitting ở chùa Cô Lan, Núi Cấm, Quảng Phú. Trên cơ sở đó, bàn kế hoạch đối phó với âm mưu, thủ đoạn đánh phá của địch, giữ vững và phát triển phong trào cách mạng. Hội nghị đã bổ sung đồng chí Võ Toàn, Nguyễn Sắc Kim, Phan Khắc vào Phủ ủy vì lúc này đồng chí Khưu Thúc Cự đã bị bắt, đồng chí Nguyễn Như Khuê tham gia Tỉnh ủy.
Tháng 9 năm 1939, sau khi chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ, bọn thực dân Pháp ở Đông Dương thi hành chính sách thời chiến, tuyên bố xóa bỏ quyền tự do dân chủ, chúng ra lệnh cấm các hoạt động chính trị, bắt tù chính trị đã được thả ra đày đi an trí. Tại Quảng Nam chúng bắt lại 60 tù nhân đưa đi an trí ở Phú Bài, Trà Kiệu, Ly Hy.
Đến tháng 10 năm 1939, các tổ chức đảng của ta bị bể vỡ ở nhiều phủ, huyện và hầu hết các đồng chí trong Tỉnh ủy đều bị bắt giam, tù đày. Đồng chí Nguyễn Như Khuê bị địch bắt cùng một lần với nhiều đồng chí Tỉnh ủy và bị giam tại nhà lao Hội An, tại đây đồng chí nếm đủ mọi thủ đoạn tra tấn của kẻ địch. Nhưng chính tại đây, đồng chí đã phát huy được phẩm chất của người cách mạng kiên trung, bất khuất. Đồng chí Nguyễn Như Khuê cùng các đồng chí khác vận động và thành lập Ban Lãnh đạo bí mật nhà tù, tổ chức đấu tranh để giữ vững tinh thần của người cộng sản và chống lại chế độ hà khắc của nhà tù.
Bị tra tấn, có lúc tưởng thừa sống thiếu chết, bị dụ dỗ mua chuộc đủ điều nhưng đồng chí vẫn luôn lạc quan cách mạng, tin tưởng thắng lợi ở ngày mai. Đồng chí Trần Đào, người Nghệ An[1] mãn hạn tù, cảm phục trước tinh thần đấu tranh của bạn, đồng chí Nguyễn Như Khuê đã sáng tác bài thơ “Lời người còn ở lại”[2] tặng bạn, kèm theo lời động viên, nhắn nhủ và tin tưởng ở sự thành công của cách mạng:
Chén quan hà bỡ ngỡ lúc chia phôi
Dây tâm tình cắt làm đôi
Hồn chiến đấu ngậm ngùi trong ngục thất
Cảnh khổ ải thân anh hằng tắm gội
Đã bao lần lặng lội chốn phong sương
Chia tay nhau cất bước lên đường
Xa ngục thất, xa trường huấn luyện
Rút kinh nghiệm của bao lần chiến đấu
Anh mang về hiến lại nhân quần
Lối đường xưa nhấn mạnh gót chân
Với nhiệm vụ chớ ngại ngần do dự
Mạnh dạn tiến xung vào quân cảm tử
Với muôn người chiến sĩ không tên
Vịn bánh xe lịch sử đẩy mau lên
Vì nhân loại đang bập bềnh trong thống khổ
Ngày tươi sáng hẳn là ngày tương ngộ
Ngày điêu tàn của chế độ bất công
Gặp nhau dưới bóng cờ hồng....
Ngày 06 tháng 01 năm 1940, địch mở phiên tòa xét xử những người cộng sản ở tỉnh Quảng Nam, trong đó có các đồng chí: Nguyễn Thành Hãn, Nguyễn Đức Thiệu, Trần Tống, Nguyễn Xuân Nhĩ, Nguyễn Thúy và Nguyễn Như Khuê. Địch muốn qua phiên tòa này nhằm hạ uy thế những người cộng sản, làm lung lạc tinh thần cách mạng của nhân dân. Tuy nhiên ý đồ của chúng đã bị thất bại ngay từ đầu, những người cộng sản đã biến phiên tòa thành diễn đàn tố cáo tội ác của địch và tuyên truyền cách mạng như ngạn ngữ “Gậy ông đập lưng ông”. Cũng như các đồng chí của mình, đồng chí Nguyễn như Khuê đã hiên ngang, gan dạ đấu tranh công khai với kẻ địch tại phiên tòa, liên tiếp hô vang các khẩu hiệu “Đả đảo đế quốc Pháp; Đảng cộng sản Đông Dương muôn năm; Việt Nam hoàn toàn độc lập”. Phiên tòa kết thúc thắng lợi thuộc về những người cộng sản yêu nước. Tuy nhiên, sau đó, bọn thực dân Pháp và tay sai đã âm mưu kết án 7 năm tù rồi đày nhiều đồng chí đi Buôn Ma Thuột, Lao Bảo, đồng chí Nguyễn Như Khuê bị đưa đi đày tại nhà tù Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị.
Nhà tù Lao Bảo nằm sâu trong dãy Trường Sơn, sát biên giới Việt Nam – Lào vô cùng khắc nghiệt. Địch đày những người cộng sản và yêu nước và cả những tù về kinh tế lên đây nhằm giết dần giết mòn về tinh thần và thể xác của họ. Cùng bị đầy lên đây còn có nhiều bạn tù kiên trung bất khuất khác của Quảng Nam, như Nguyễn Xuân Nhĩ, Trần Ảnh Hưởng (Trần Hoài Ân), Lê Bá, Nguyễn Cúc, Võ Sạ, Nguyễn Thúy, Nguyễn Phùng, Nguyễn Chánh Biên, Nguyễn Lân. Ngoài ra còn có nhiều bạn tù của các tỉnh Thừa Thiên, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, như Tố Hữu, Nguyễn Chí Thanh, Lê Tự Nhiên... Những tù chính trị bị chúng xếp vào loại tù đặc biệt nguy hiểm thì luôn bị theo dõi, chú ý, hạn chế tối đa các chế độ, kèm theo đó là cảnh đàn áp, tra tấn dã man bằng nhiều dụng cụ và cách thức khác nhau như:Gông, cùm, xiềng xích, còng số tám, cùm ngựa, dây treo, roi gân bò, roi mây to, xà phòng nước, dụng cụ điện quay, điện chích.…, mỗi thứ có chức năng và có tác dụng riêng nhưng có điểm chung là để hành hạ, cưỡng ép con người. Không dừng lại ở đó, bọn cai ngục còn bắt tù nhân lao động khổ sai, ăn uống kham khổ.
Với đồng chí Nguyễn Như Khuê thì “bạn đời” lúc này là gông, xiềng và luôn nếm mọi nhục hình, da luôn ứa máu. Chúng tra tấn bất kể ngày đêm và liên tục. Cộng vào đó, khí hậu nơi đây luôn ẩm thấp, khắc nghiệt, muỗi đốt, vệ sinh không đảm bảo nên đồng chí đã bị sốt rét hành hạ. Trong hoàn cảnh đó, có không ít chiến sĩ cách mạng ra đi vinh viễn vì bệnh tật, đòn roi hay là tự hy sinh mình để giữ trọn khí tiết. Sống trong địa ngục trần gian Lao Bảo, đồng chí Nguyễn Như Khuê luôn nung nấu lòng yêu nước thiết tha, không ngừng rèn luyện, ý chí, khí tiết của người cộng sản và xem “ngục thất là trường huấn luyện”.
Ở đâu có áp bức ở đó có đấu tranh, nhưng theo quan điểm “muốn vận động cách mạng thành công trước hết phải có tổ chức của cách mạng” (Nguyễn Ái Quốc). Trong nhà tù Lao Bảo, đồng chí Nguyễn Như Khuê cùng với các đồng chí vào sau nhanh chóng móc nối, liên lạc, tập hợp nhau lại tổ chức hoạt động trong tù nhằm giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao lập trường quan điểm, ý chí cách mạng; vận động, lôi kéo binh lính đứng về phía những người yêu nước.
Vào giữa năm 1940, tại nhà tù Lao Bảo diễn ra sự kiện tên đồn trưởng sát hại đồng chí Lê Thế Tiết, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị. Ngay lập tức, anh em tù chính trị tổ chức một cuộc đấu tranh do đồng chí Tố Hữu, Nguyễn Chí Thanh, Nguyễn Xuân Nhĩ, Nguyễn Thúy lãnh đạo, đồng chí Nguyễn Như Khuê đã tích cực tham gia. Cuộc đấu tranh kéo dài hơn 10 ngày thu được thắng lợi, gây tiếng vang lớn từ đó, tên đồn trưởng giảm khắc khe với anh em tù nhân, chế độ ăn uống có phần được cải thiện.
Tháng 8 năm 1940, tình hình chính trị ở Đông Dương có nhiều biến động số lượng tù nhân ở nhà tù Lao Bảo tăng lên. Lợi dụng tình hình này, bọn cai trị ở nhà tù Lao Bảo thẳng tay bóp ngặt, hạn chế những quyền lợi vật chất và tinh thần vốn ít ỏi của tù nhân, các điều kiện sinh hoạt tối thiểu bị cắt giảm, nhất là nước tắm, giặt quần áo, khẩu phần ăn, vệ sinh không được đảm bảo. Tình hình đó làm cho đồng chí Nguyễn Như Khuê đã bị bệnh sốt rét ác tính tái phát hành hạ, nóng sốt liên tiếp mấy ngày liền, tiểu ra máu, bệnh tình ngày càng trầm trọng và đồng chí đã hy sinh trong nhà tù Lao Bảo vào tháng 11 năm 1940, lúc vừa tròn 23 tuổi.
Sự ra đi của đồng chí để lại bao nỗi tiếc thương cho đồng đội, đồng chí và nhân dân. Khi nghe tin đồng chí Nguyễn Như Khuê hy sinh, đồng chí Hoàng Ngọc Mai (hiện trú thôn 1, xã Tam Quang, huyện Núi Thành) là một cơ sở quần chúng, đã tiếc thương vô hạn, sáng tác bài thơ:
Tin sét đánh, ôi thôi Anh Xích Việt
Còn chi đâu! Anh vĩnh biệt cõi trần
Nghe tin anh đôi lệ chảy hai hàng
Dưới 3 thước đất vàng mồ liệt sĩ
Đau đớn nhỉ cho đời anh yêu quý
Mới 23 tuổi mà để sổ trần gian
Anh vào tù năm 39 ở cơ quan
Ban Tỉnh ủy Quảng Nam bị truy tố
Chính phủ Pháp và Nam Triều một lũ
Bảy năm tù nó kêu án cho anh
Rồi đưa đi nơi nước hiểm rừng xanh
Nơi nước độc bao vây thành Lao Bảo
Nơi đè xét biết bao xương máu
Và biết bao người chiến sĩ quyết quyên sinh
Mà bây giờ đặng lần lượt đến phiên anh
Nơi chín suối trở thành người thiên cổ
Xích Việt chết gia đình đau khổ
Một mẹ già với hai em dại thơ ngây
Mà bạn bè quần chúng không ngờ
Trận quyết chết dưới cờ màu đồng chí
Xích Việt chết nhưng tinh thần anh còn mãi mãi
Còn rực rỡ ở cạnh tương lai.
Đồng chí Nguyễn Như Khuê đã chiến đấu, cống hiến công sức, xương máu đến giờ phút cuối cùng mà không được hưởng một giờ tự do, không thấy được quê hương gia đình, đồng chí, đồng bào hân hoan đón chào ngày quê hương được giải phóng. Đồng chí vĩnh viễn nằm lại nhà tù Lao Bảo - nơi ghi dấu chiến tích của chiến tranh, nơi chứng kiến biết bao sự hy sinh, mất mác nhưng bên cạnh đó là tinh thần quả cảm, hiên ngang và những cái chết trở thành bất khuất.
Với khoảng thời gian sống, chiến đấu và công tác ngắn ngủi nhưng đã cống hiến hết mình cho Tổ quốc, đồng chí đã được Đảng và Nhà nước khen tặng: Huân chương Kháng chiến hạng Ba và được công nhận Liệt sĩ.
1 Cuộc họp này được xem như Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng bộ Tam Kỳ. Vì có đại biểu cơ sở (Tổng ủy và các chi bộ) dự và hội nghị đã tiến hành kiểm điểm tình hình, bàn nhiệm vụ công tác và bầu Phủ ủy chính thức. [1] Đồng chí Trần Đào người Nghệ An, một chiến sĩ hoạt động cách mạng bị thực dân Pháp bắt giam tại nhà lao Hội An năm 1939, ra tù năm 1940. [2] Trích “Phong trào đấu tranh của tù yêu nước ở nhà lao Hội An”, xuất bản năm 2003, tr.171. Bài thơ này được đồng chí Nguyễn Như Khuê sáng tác năm 1940, tại nhà lao Hội An.



