Bài viết

Nguyễn Như Trang - Người nghệ sĩ, chiến sĩ Tây Tiến và khúc tráng ca bất tử ở thung lũng Mường

Bước ra từ chiếc nôi trí thức Hà thành, người con ưu tú của dòng họ Nguyễn Như đất Phú Thọ – Nguyễn Như Trang – đã mang cả lãng mạn vào khói lửa, dâng hiến thanh xuân cho mặt trận Thủ đô và đoàn quân Tây Tiến huyền thoại. Giữa núi rừng Lạc Sơn bão lửa, người Tiểu đoàn phó tài hoa ấy đã chọn một mình bám trụ chiến đấu, dùng máu xương tạc nên bức tượng đài bi tráng, khiến ngay cả kẻ thù cũng phải cúi đầu thán phục.

Quảng Trị06/06/2026Nguyễn Vũ Bảo Khang Chi đoàn 10 Chuyên Sử (Đoàn phường Đồng Hới)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Liệt sĩ Nguyễn Như Trang sinh năm 1927 trong một gia đình nhà giáo danh giá tại làng Nam Nhạc, thôn Vĩnh Mộ, xã Cao Xá, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Ông là hậu duệ đời thứ 15 của Thám hoa, Tướng công Nguyễn Như Thức – vị thủy tổ của dòng họ Nguyễn làng Nam Nhạc. Thân sinh của ông là cụ giáo Nguyễn Như Hoàn, một trí thức yêu nước từng đoạt giải nhất thơ Ngụ ngôn của Hội Khai trí Tiến đức trước Cách mạng tháng Tám năm 1945.

Sớm được cha mẹ định hướng học tập tại ngôi trường Thăng Long (Hà Nội) đúng vào thời kỳ sôi nổi của Mặt trận Dân chủ Đông Dương, lòng yêu nước và chí khí tự tôn dân tộc trong Nguyễn Như Trang đã được khơi nguồn, bồi đắp từ những bài giảng khai phóng của các thầy giáo lừng danh thời bấy giờ như Đặng Thai Mai, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Minh Giám…

Từ chiến lũy Liên khu II đến người chỉ huy xuất sắc

Tháng 8 năm 1945, sau khi tích cực tham gia giành chính quyền tại Mỹ Hào (Hưng Yên) – nơi cha mẹ ông đang sinh sống, người thanh niên trí thức Nguyễn Như Trang lập tức trở lại Thủ đô Hà Nội và gia nhập lực lượng Vệ quốc đoàn. Nhờ bản lĩnh vững vàng, học thức sâu rộng, lại sở hữu tài năng thiên bẩm về cả thơ và nhạc, mùa hè năm 1946, ông được tổ chức tin tưởng giao nhiệm vụ giảng dạy kỹ thuật quân sự tại trường quân chính của Vệ quốc đoàn, chuyên đào tạo cán bộ cấp Tiểu đội. Nhờ sớm trưởng thành trong cuộc chiến đấu quyết liệt bảo vệ chế độ dân chủ nhân dân, ông vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương ngay trong năm 1946.

Tháng 11 năm 1946, khi Hà Nội gấp rút chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp, năm Tiểu đoàn Vệ quốc đoàn được bố trí chốt giữ tại ba Liên khu nội thành. Lúc bấy giờ, trung đội do Nguyễn Như Trang làm Trung đội trưởng nhận trọng trách mật: bảo vệ một số cán bộ lãnh đạo của Khu XI đóng tại khu vực Lò Lợn. Cựu chiến binh Nguyễn Hoàng Sâm – một tiểu đội trưởng dưới quyền ông năm đó – bồi hồi nhớ lại

“Lúc đó, cán bộ Mặt trận khu XI có anh Trần Độ và một số người nữa, mượn nhà dân ở khu Lò Lợn, giáp Nhà máy Xay Lương Yên. Chúng tôi canh gác, bảo vệ các anh. Ngày 16 tháng 12 năm 1946, Lễ Quyết tử được tổ chức rất linh thiêng trong tâm trí chiến sĩ đội Quyết tử. Đêm 19/12/1946, chúng tôi đánh địch ở đê Stai Quai (quận Hai Bà Trưng ngày nay), rồi tiến vào ngã ba Lò Đúc - Yersin. Ở đây, các bao đựng đường cũng được người dân mang ra đắp ụ chiến lũy, nên khi tôi chiến đấu bị dính cả đường vào cánh tay. Chiến đấu được ít hôm, thì Trung đội sáp nhập với Tiểu đoàn 212 Vệ quốc đoàn”.

Tiểu đoàn 212 khi ấy gồm ba đại đội 14, 15, 16 do đồng chí Quang Tuần làm Tiểu đoàn trưởng, Bùi Cúc làm Tiểu đoàn phó và Văn Tân làm Chính trị viên. Với năng lực vượt trội, Nguyễn Như Trang được bổ nhiệm làm Đại đội trưởng một đại đội của Tiểu đoàn. Dưới sự chỉ huy của ông, những cuộc chiến đấu giằng co quyết liệt đã nổ ra trên khắp các địa bàn huyết mạch: Ô Cầu Dền, phố Huế - Viện Pasteur, Ngã năm Lò Đúc - Hàm Long - Lê Văn Hưu - Phan Chu Trinh, Nhà máy Rượu Hà Nội, Ô Đông Mác - Cảng Phà Đen. Ông đã cùng đồng đội mưu trí tiêu diệt nhiều sinh lực địch và xe cơ giới tại Mặt trận Liên khu II.

Trong bài hồi ký “Từ Hà Nội đi Tây Tiến”, ông Lê Hùng Lâm – chiến sĩ Đại đội 16, người từng kề vai sát cánh cùng Nguyễn Như Trang – viết:

“Chiến lũy Hòa Mã cản địch từ phố Huế vào rất có hiệu quả. Xe tăng địch đến góc phố phải dừng lại. Tôi được phân công ra bắn giữa ụ đất. Bắn xong mỗi phát lại phải lao khẩu khai hậu vào trong nhà để anh em thông nòng. Ở Ô Cầu Dền, địch cũng bị chặn đánh rất lâu. Chúng không qua được chiến lũy, phải đánh vòng qua Việt Nam học xá xuống chợ Mơ rồi đánh ngược lên. Sau Tết, đại đội tôi đánh chặn địch ở Nam Dư Thượng - Nam Dư Hạ. Biết đơn vị mình đang bí mật chọn người đi Tây Tiến, tôi tìm gặp anh Như Trang xin đi. Chúng tôi để Hà Nội lại sau lưng. Tây Tiến!”.

Ông Nguyễn Hoàng Sâm kể rõ thêm về hành trình này: “Chúng tôi được lệnh bí mật tập trung quân ở gần sân bay Bạch Mai, xốc lại lực lượng, nhằm thị xã Hà Đông tiến quân. Đến nơi, cầu bắc qua sông Nhuệ không còn, chúng tôi phải xuống mảng tre qua sông để vào trong thị xã, theo đường số 6 mà đi”. Cuộc chiến đấu một mất một còn ở mặt trận Hà Nội đã tôi luyện bản lĩnh kiên cường của người Đại đội trưởng xuất sắc Nguyễn Như Trang.

Tiếng cồng quân y và những chiến công trên đại ngàn Tây Tiến

Rời Nam Dư, đơn vị hành quân ra Xuân Mai bổ sung quân số, thành lập Tiểu đoàn 150 với nhiệm vụ tiến sang Thượng Lào đánh địch, bảo vệ sườn phía Tây của Tổ quốc. Cuối tháng 2/1947, Tiểu đoàn 150 chính thức thuộc biên chế Trung đoàn 52 Tây Tiến (gồm bốn Tiểu đoàn: D150, D157, D160, D164). Các chiến sĩ hành quân theo lộ trình gian khổ: Lương Sơn - Chợ Bò - Suối Rút - Chiềng Sại, rồi ngược dòng sông Mã đánh chiếm Mường Lát trong năm 1947.

Nếm trải đủ mọi gian khổ của vùng rừng thiêng nước độc, cuối năm 1947, Nguyễn Như Trang bị thương và được đưa về điều trị tại trạm xá Trung đoàn. Tại đây, ông đã chứng kiến cảnh tượng đau thương: căn bệnh sốt rét ác tính hoành hành, cướp đi sinh mạng của hàng loạt chiến sĩ trẻ. Mỗi khi một tiếng cồng định mệnh vang lên giữa đại ngàn là lại có một người đồng đội mãi mãi nằm xuống. Quá xúc động và đau xót, người chiến sĩ tài hoa đã sáng tác ca khúc “Tiếng cồng quân y”, nói thay tâm trạng bi tráng của người lính:

“Chàng chưa đáng chết, nước non chưa yên

Nhưng bệnh rừng ác độc mang chàng đi

Mà nước non đang chờ…

Nơi quân y đã bao lần tiếng cồng rền rĩ

Tới tai người chiến sĩ hùng dũng xưa kia”

Không dừng lại ở đó, ông còn viết nhiều bài báo, sáng tác nhiều ca khúc cách mạng khích lệ cán bộ chiến sĩ vượt qua gian khổ. Tác phẩm nổi tiếng “Trấn biên cương” do ông phổ nhạc từ bài thơ do chính mình sáng tác năm 1946 đã ra đời trong những ngày đỏ lửa tại mặt trận Hòa Bình. Mỗi khi giai điệu vang lên, các chiến sĩ Tây Tiến lại thêm vững vàng tay súng: “Đoàn quân lên trấn biên cương hào hùng / Một mùa xuân mới trời rung / Đem chiến công về vinh quang mà danh vang ghi”.

Tháng 5/1948, thực dân Pháp tập hợp bọn lang đạo phản động đầu sỏ tại thị xã Hòa Bình để thành lập cái gọi là “Xứ Mường tự trị”, phong Đinh Công Quyền làm Chánh quan lang và ra tờ báo Sao Trắng làm công cụ tuyên truyền. Đến thu - đông năm 1948, quân Pháp đã chiếm đóng hai phần ba đất đai ở Hòa Bình, kiểm soát toàn bộ tuyến Quốc lộ 6, 12 và 15 hòng biến nơi đây thành "bức tường thép bên sông Đà”, chặt đứt mạch máu giao thông nối Liên khu 3, Liên khu 4 với Việt Bắc và Tây Bắc.

Trong bối cảnh gian khổ không lời nào tả xiết đó, Nguyễn Như Trang đã mưu trí chỉ huy một đại đội thuộc Tiểu đoàn 150 chiến đấu anh dũng trên đường số 6, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, thu giữ nhiều vũ khí và bẻ gãy các cuộc hành quân của giặc. Điển hình là trận Mè - Lặt (Lương Sơn), ta tiêu diệt hàng chục tên địch, bắt tên đảng trưởng khét tiếng Phùng Đồng Đẳng phải đền tội. Tiếp đó, trong trận tiêu diệt căn cứ Mai Châu, đồn Mai Hạ và Mường Lò, ông đã trực tiếp chỉ huy bộ đội đánh phá cơ quan ngôn luận của xứ Mường tự trị (nơi có tòa soạn báo Sao Trắng do Quách Đăng làm chủ bút), diệt gọn 2 trung đội địch, làm chủ hoàn toàn trận địa. Chiến công vang dội khắp vùng núi rừng Hòa Bình đã giúp ông được cấp trên tin tưởng bổ nhiệm giữ chức vụ Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 150, Trung đoàn 52 Tây Tiến.

Khúc tráng ca cuối cùng và cái cúi đầu của kẻ thù

Thu đông năm 1948, Trung đoàn 52 chủ trương điều động các đại đội độc lập hỗ trợ Tiểu đoàn 150 nhổ đồn Đầm và đồn Nghẹ – hai vị trí chiến lược của địch ở Ngọc Lặc (phía tây Thanh Hóa) nhằm tạo đà giải phóng một vùng rộng lớn thông liên tỉnh Thanh Hóa - Hòa Bình. Ban chuẩn bị chiến trường do Trung đoàn trưởng An Giao và Chính ủy Hùng Thanh trực tiếp dẫn đầu; Tiểu đoàn 150 do Tiểu đoàn phó Nguyễn Như Trang và Đại đội trưởng 135 Nguyễn Huy Ngọc chỉ huy.

Sau vài ngày hành quân thần tốc, ngày 19/11/1948, bộ phận trinh sát tiền phương tiến đến thôn Mu, làng Ngọc Lâu, Châu Lạc Sơn (nay là xã Tự Do, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình). Do bị bọn Mường gian chỉ điểm, một bộ phận trinh sát của ta bất ngờ bị một đại đội địch tăng cường, trong đó có trung đội lính Âu - Phi sừng sỏ vây ráp, tấn công điên cuồng.

Theo lời kể của ông Lê Hùng Lâm – người luôn theo sát Nguyễn Như Trang như hình với bóng: Trong điều kiện hoàn toàn bất lợi, địa hình trống trải, lực lượng chênh lệch quá lớn (ta một địch mười), vị Tiểu đoàn phó trẻ tuổi đã quyết đoán ra lệnh cho các chiến sĩ lập tức rút khỏi vòng vây để bảo toàn lực lượng cách mạng. Trên trận địa địa đầu lúc ấy, chỉ còn lại Nguyễn Như Trang và Đại đội trưởng Nguyễn Huy Ngọc tình nguyện ở lại nổ súng đánh lạc hướng, thu hút toàn bộ hỏa lực địch về phía mình.

Khi người đồng đội Huy Ngọc anh dũng ngã xuống, chỉ còn lại một mình đơn độc giữa trùng điệp vòng vây, Nguyễn Như Trang vẫn kiên cường chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, tiêu diệt hơn 10 tên địch trước khi hy sinh oanh liệt vào trưa ngày 19/11/1948.

Chứng kiến sự quả cảm đến phi thường của người chỉ huy bên kia chiến tuyến, tên viên trung úy chỉ huy quân Pháp khi đứng trước thi thể ông đã phải thốt lên kính cẩn: “Tôi cúi đầu thán phục trước cái chết anh hùng của người sĩ quan trẻ tuổi”. Chính tấm gương hy sinh lẫm liệt của Nguyễn Như Trang đã cảm hóa Grand Wath – một người lính Âu - Phi trong hàng ngũ quân Pháp, khiến người này sau đó đã giác ngộ và chạy sang hàng ngũ bộ đội Cụ Hồ.

Hành trình quy tập và sự tri ân của lịch sử

Sau trận đánh, thi thể của các liệt sĩ đã được đồng bào thôn Mu trân trọng chôn cất đúng như tinh thần “Áo bào thay chiếu anh về đất”. Một thời gian sau, đơn vị cử người tìm đến gia đình ông đang tản cư ở Thanh Ba (Phú Thọ) để báo tin buồn.

Năm 1957, người mẹ của ông là cụ Đặng Thị Lục cùng người em trai thứ bảy là Nguyễn Như Giao đã lặn lội lên làng Mu. Trải qua bao khó khăn vất vả, khi đạp xe, lúc xuống thuyền dọc theo các con sông, họ mới đến được bản làng xa xôi ấy. Được sự giúp đỡ tận tình của đồng bào địa phương, đặc biệt là ông Bùi Mun (con trai cụ già năm xưa đã tự tay chôn cất hai chiến sĩ), gia đình đã tìm thấy hài cốt của hai anh Nguyễn Như Trang và Nguyễn Huy Ngọc nằm trong hai ngôi mộ kề bên nhau. Mẹ nén đau thương, xin rước vong linh hai anh về chùa Trấn Quốc (Hà Nội) làm lễ, trước khi Lễ truy điệu và an táng trang trọng được tổ chức tại Nghĩa trang Liệt sĩ Mai Dịch. Hiện nay, ông nằm tại Lô số 8, khu L1, quây quần bên hàng trăm liệt sĩ của Thủ đô.

Ghi nhận chiến công đặc biệt xuất sắc và sự hy sinh vĩ đại của ông, ngày 21/10/2014, Đảng và Nhà nước đã trang trọng truy tặng liệt sĩ Nguyễn Như Trang danh hiệu cao quý: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Dòng họ Nguyễn Như ở Cao Xá (Phú Thọ) đã trang trọng tổ chức Lễ vinh danh ông vào ngày 26 tháng 9 âm lịch năm 2015 (tức ngày 7/11/2015).

Để tạc khắc hình tượng người anh hùng, năm 2016 tại Hà Nội, họa sĩ - nhà điêu khắc Hoàng Sỹ Long đã sáng tác bức tượng đồng bán thân nguyên khối cao 50cm phác họa chân dung ông. Đúng ngày 30/4/2017, Đảng ủy, HĐND, UBND xã Tự Do, huyện Lạc Sơn đã về Hà Nội làm lễ trang trọng rước bức tượng này từ chùa Trấn Quốc về thờ tại địa phương – nơi ông đã ngã xuống trong niềm tiếc thương vô hạn của bà con. Đặc biệt, dịp kỷ niệm 70 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/2017), gia đình anh hùng đã hiến tặng bức tượng đồng thứ hai cho Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.

Hình tượng người chiến sĩ Tây Tiến Nguyễn Như Trang sẽ mãi là một nốt nhạc bi tráng, sống mãi trong mạch nguồn lịch sử dân tộc và trong muôn vạn trái tim người Việt Nam:

“Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi…”

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn