Nguyễn Quang Bích- Nhà quân sự tài hoa, nhà văn tiên phong về Tây Bắc.
Nguyễn Quang Bích còn có tên là Ngô Quang Bích, sau đổi thành họ Nguyễn, tự là Hàm Huy, hiệu Ngư Phong. Ông là một vị quan nhà Nguyễn, một nhà lãnh tụ cuộc khởi nghĩa chống Pháp tại vùng Tây Bắc đồng thời ông cũng là một nhà thơ.
Nguyễn Quang Bích sinh ngày 8 tháng 4 năm Nhâm Thìn (tức 7 tháng 5 năm 1832). Quê hương của ông thuộc làng Trình Phố, huyện Trực Định, phủ Kiến Xương, tỉnh Nam Định, nay là làng Trình Nhất, xã An Ninh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình).
Ngay từ nhỏ Nguyễn Quang Bích nổi tiếng thông minh học giỏi nhất trong vùng, ông là học trò của tiến sĩ Doãn Khuê (1813-1878). Năm 1858 ông đỗ tú tài, năm 1861 đỗ cử nhân và được bổ làm Giáo thụ phủ Trường Khánh, tỉnh Ninh Bình. Năm 1869, ông đỗ Hoàng giáp và được cử làm Tri phủ tại phủ Lâm Thao (tỉnh Phú Thọ ngày nay), rồi làm Tri phủ Diên Khánh (tỉnh Khánh Hòa ngày nay), những năm tiếp sau ông làm các chức vụ: Án sát Sơn Tây, Tế tửu Quốc Tử Giám Huế, Án sát tỉnh Bình Định. Năm 1875, ông được vua Tự Đức giao cho duyệt bộ sách Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, cũng trong năm triều đình mở doanh điền Hưng Hóa (Phú Thọ) vừa khai hoang vừa phòng vệ núi rừng Tây Bắc, Nguyễn Quang Bích được cử làm Chánh sơn phòng sứ. Năm 1876 kiêm thêm chức Tuần phủ tỉnh Hưng Hóa. Khi làm quan, Nguyễn Quang Bích luôn tỏ ra là một vị quan thanh liêm, có đức độ nên được nhân dân các địa phương rất ngưỡng mộ và thường gọi ông là “Hoạt phật” (Phật sống).

Quân vụ đại thần, Thuần trung tướng quân Nguyễn Quang Bích (1832-1890).
Khi ông giữ chức Tuần phủ tỉnh Hưng Hóa, ông là người cương quyết chống lại đường lối thỏa hiệp với Pháp (Hiệp ước Quý Mùi 25-8-1883) của triều đình nhà Nguyễn. Năm 1883 Pháp tấn công Hưng Hóa, ông đã chỉ huy binh lính giữ thành. Quân thì ít, thế thì nguy, Nguyễn Quang Bích định liều chết để giữ thành những các tướng lĩnh bên cạnh đã kịp thời đưa ông lên ngựa, phá vòng vây của quân Pháp chạy về Tam Nông (Phú Thọ ngày nay), sau đó ông đến Cẩm Khê thu thập quân binh tính chuyện cố thủ lâu dài.
Năm 1885 , khi vua Hàm Nghi, phát động phong trào Cần Vương kêu gọi văn thân sĩ phu và nhân dân cả nước đúng dậy chống Pháp cứu nước. Cùng lúc đó có dụ khai phục và thăng chức cho các quan văn võ ngoài Bắc. Nguyễn Quang Bích được phong cấp Thượng thư bộ Lễ sung Hiệp thống quân vụ Bắc Kỳ, có toàn quyền chọn văn võ các cấp và được giao nhiệm vụ mang quốc thư sang Trung Quốc cầu viện. Ngoài việc đi Trung Quốc nhờ giúp đỡ về quân sự, Nguyễn Quang Bích còn có mục đích bí mật yêu cầu Lưu Vĩnh Phúc đưa đội quân Cờ Đen xuôi sông và Tôn Thất Thuyết thì từ miền Trung ra để phối hợp chiến đấu cùng một lúc nhân dân Trung và Bắc Kỳ đồng loạt nổi dậy. Nhưng trước đó triều đình nhà Thanh mới ký thêm với Pháp Điều ước Thiên Tân (9-6-1885), hoàn toàn nhượng bộ tư bản Pháp, công nhận nền đô hộ của Pháp trên đất nước Việt Nam.
Nguyễn Quang Bích hai lần sang Trung Quốc cầu viện, chuyến đi thứ hai cũng không mang lại kết quả gì đáng kể. Khi đó thực dân Pháp đã khóa chặt biên giới hai nước, Nguyễn Quang Bích phải luồn rừng vượt suối trở về nước tập trung lực lượng, lập căn cứ mới tại vùng Nghĩa Lộ (châu Văn Chấn, nay là thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái) để tiếp tục lãnh đạo kháng chiến. Nhân nhân các châu huyện xung quanh ủng hộ lương thực, lập kho dự trữ để đảm bảo cho cuộc chiến. Nghĩa quân ngày càng tăng, nên quân Pháp mấy lần càn quét hai huyện Văn Bàn và Văn Chấn (đầu tháng 12-1886) , đánh vào Đại Lịch (1-1887) đều bị nghĩa quân của ông phục kích đánh, quân Pháp thiệt hại phải rút lui. Bị thất bại, quân Pháp một mặt dùng quân đội đàn áp, một mặt cho tay sai là Bố chánh ngụy tỉnh Hưng Hóa và Tri phủ ngụy Lâm Thao đến dụ dỗ những Nguyễn Quang Bích đã cự tuyệt. Tháng 11 - 1887, Pháp tấn công vào Nghĩa Lộ. Tháng 4 năm 1888, Soái phủ Nam kỳ gửi thêm viện binh ra Bắc, ngay sau đó quân Pháp chia thành hai đạo quân tiến lên Nghĩa Lộ. Nguyễn Quang Bích tập hợp các tướng sĩ bố trí một trận phục kích lớn, dọc đường cả hai dạo quân của Pháp đều chịu thiệt nặng vì bị mai phục, nên mặc dù quân Pháp chiếm được một số nơi mà vẫn phải triệt hồi. Thời gian sau Nguyễn Quang Bích rời căn cứ Nghĩa Lộ đến Yên Lập là một huyện của tỉnh Phú Thọ để củng cố phong trào kháng chiến tại vùng này. Ở đây, Nguyễn Quang Bích đã phái nhiều đạo quân đi đánh nhiều nơi và cũng thu được một số kết quả.
Năm 1890, Nguyễn Quang Bích chuyển bệnh rồi mất. Thi hài ông được chôn cất trên ngọn núi Tôn Sơn (căn cứ của nghĩa quân) thuộc xã Mộ Xuân, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ.
Cuộc đời và sự nghiệp của ông cùng những vần thơ và cảnh vật con người Tây Bắc là một tài sản quý và là niềm tự hào của nhân dân cả nước nói chung và nhân dân Tây Bắc nói riêng. Trong tác phẩm của ông để lại nhất là tác phẩm Ngư Phong thi văn tập của ông gồm 97 bài thơ bằng chữ Hán theo thể Đường luật được sáng tác trong những năm ông lãnh đạo nghĩa quân chống Pháp đó là những áng văn chương thấm đậm tinh thần yêu nước, thương dân góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn thơ yêu nước thời cận đại. Ngoài ra còn có “thư trả lời quân Pháp” với lời lẽ khẳng khái, ý chí quyết hi sinh vì độc lập, dân tộc.
Ngày nay, người đời ghi nhận công lao của ông và đã đặt tên Nguyễn Quang Bích cho một con phố ở Hà Nội thuộc quận Hoàn Kiếm và tên ông cũng được đặt tên cho các đường phố và trường học ở các địa phương khác như Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Thái Bình…Tên tuổi của ông sáng mãi trong dân tộc.



