NGUYỄN QUANG BÍCH – VỊ TƯỚNG SÁNG NGỜI TRÊN NON CAO TÂY BẮC
NGUYỄN QUANG BÍCH – VỊ TƯỚNG SÁNG NGỜI TRÊN NON CAO TÂY BẮC
Từ thuở ông bà chúng tôi còn trẻ, trong những đêm sương phủ trắng Mường Lò, người già thường kể lại rằng: “Có một vị quan từ miền xuôi lên, nhưng lòng ông thì thuộc về núi rừng như thể sinh ra ở mảnh đất này.”
Người ấy chính là Quan lớn Bích – Nguyễn Quang Bích, ngọn lửa bừng sáng giữa những năm tháng “hoa lửa” của đất nước.
Ngày ông đặt chân lên Văn Chấn – Nghĩa Lộ, đồng bào chúng tôi còn chưa quen với áo mũ quan triều. Nhưng ông không đến để đòi thuế, cũng chẳng ra oai. Ông đến từng bản Thái, bản Dao, ngồi bên bếp lửa uống bát rượu ngô, hỏi chuyện mùa nước lên, chuyện nương rẫy, chuyện giặc Tây quấy nhiễu dân bản. Ông bảo:
“Tôi lên đây để cùng bà con giữ lấy núi rừng.”
Và từ đó, Tây Bắc mở lòng đón ông như đón người thân trở về.
Chúng tôi thấy ông dựng căn cứ ở Phù Nham, Cát Lem, Gia Hội, Suối Giàng, từng ngọn núi, con suối dường như quen hơi ông. Rồi từng tù trưởng bản mường – Cầm Văn Than, Cầm Văn Nghị, Đèo Văn Phương, Quan phủ Cát Lem – đến kết nghĩa cùng ông. Họ gọi ông không phải bằng chức tước, mà bằng cái tên đầy tin yêu: Quan lớn Bích.
Nghĩa sĩ từ Trạm Tấu, Mù Cang Chải, Mường Khương, Bảo Yên… nối nhau kéo đến. Cờ nghĩa phấp phới trên từng dải núi. Tiếng chiêng, tiếng trống, tiếng khèn hòa vào tiếng suối, tiếng gió – thành khúc gọi người đứng lên đánh giặc.
Ngày ấy, chúng tôi còn trẻ. Có người gùi cơm, người gùi muối, người canh đường; có khi chỉ là cành lá dựng lên làm ám hiệu. Quan lớn Bích dạy nghĩa quân:
· Không được lấy của dân
· Không được đốt nương phá rẫy
· Gặp nhà nghèo phải giúp
· Làm gì cũng phải giữ lòng trong sạch
Bởi vậy dân bản chúng tôi mới nói:
“Quân của Quan lớn Bích là quân cứu dân.”
Trong những đêm rừng âm u, ông hay ngồi lặng nghe tiếng suối, rồi cầm bút viết những câu thơ mà người già còn nhớ đến bây giờ:
“Đêm nằm nghe tiếng suối,
Như tiếng lòng nước non đang gọi.”
Rồi những trận đánh vang rừng.
Pháp từ Lào Cai xuống Yên Bái nhiều lần bị nghĩa quân chặn đánh.
Ở Cát Lem, chúng tôi nghe tiếng súng nổ rung cả vách núi, giặc chết la liệt.
Có lúc, chính quân Pháp phải thốt lên rằng Quan lớn Bích là kẻ thù nguy hiểm nhất Thượng du Bắc Kỳ.
Nhưng giặc đông, lại thêm bệnh tật.
Mùa đông năm 1890, giữa ngày chạy dọc núi rừng tránh vòng vây, Quan lớn Bích ngã bệnh nặng. Ông nằm lại ở chính đất Cát Lem – nơi bao lần ông đánh giặc bảo vệ dân bản.
Chúng tôi quây quần bên ông.
Ông yếu lắm, nhưng vẫn dặn một câu cuối:
“Dân mình còn thì nước mình còn.”
Ngày ông mất, cả núi rừng lặng đi.
Không ai bảo ai, từng đoàn người từ bản Thái, bản Dao, bản Mông lặng lẽ đổ về Cát Lem. Tiếng khóc hòa vào tiếng suối. Người ta đưa ông về đền Cúc Bích, tiễn một con người mà núi rừng coi như con của mình.
Giờ đây, nhiều mùa rẫy đã qua, nhưng mỗi độ sương xuống Mường Lò, mỗi lần khèn gọi bạn ở Mù Cang Chải vọng xuống thung, chúng tôi lại nhớ về ông.
Nhớ vị quan từ miền xuôi mà tấm lòng thuộc về rẻo cao.
Nhớ vị tướng biết nghe tiếng lòng dân như nghe tiếng suối.
Quan lớn Bích không chỉ còn trong sử sách.
Ông còn trong rừng, trong núi, trong từng câu chuyện của dân bản Tây Bắc – như một ngọn lửa không bao giờ tắt.



