Nguyễn Quang Bích người có công lớn nhất trong việc quy tụ các dân tộc thiểu số vùng cao
Nguyễn Quang Bích là tấm gương sáng ngời về tinh thần kiên cường, khí tiết anh hùng của sĩ phu Việt Nam

I. SƠ YẾU LÝ LỊCH & THÂN THẾ
Họ và tên: Nguyễn Quang Bích (tên thật là Nguyễn Văn Bích).
Năm sinh – Năm mất: 1832 – 1890 (thọ 58 tuổi).
Quê quán: Làng Trình Phố, huyện Chân Định (nay thuộc xã An Ninh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình).
Xuất thân: Sinh ra trong một gia đình dòng dõi Nho học giàu truyền thống yêu nước.
Học vị – Nghiệp quan:
Năm 1861: Đỗ Hương tiến (Cử nhân).
Năm 1869: Đỗ Đệ nhất danh Tiến sĩ xuất thân (Đình nguyên Tiến sĩ) thời vua Tự Đức.
Được triều đình nhà Nguyễn bổ nhiệm làm Chánh sơn phòng sứ Hưng Hóa, Tuần phủ Hưng Hóa (bao gồm vùng đất rộng lớn thuộc các tỉnh Phú Thọ, Yên Bái, Lao Cai, Sơn La, Lai Châu ngày nay).
Sự nghiệp kháng Pháp
Ngày 12 tháng 4 năm 1884, thành Hưng Hóa do Nguyễn Quang Bích cai quản bị quân Pháp đánh hạ. Noi gương Tổng đốc Hoàng Diệu, ông định tuẫn tiết, nhưng nhờ quân sĩ phá vòng vây cứu ra4 . Sau đó, ông thu tàn quân chạy về Tứ Mỹ, tiếp theo là Áo Lộc, rồi lên Tiên Động (nay thuộc huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ) lập căn cứ để kháng Pháp.
Tháng 7 năm 1885, vua Hàm Nghi xuất bôn ra Cam Lộ (Quảng Trị), ban bố dụ Cần Vương. Biết Nguyễn Quang Bích là người có chí và có tài đức, nhà vua phong ông làm Lễ bộ thượng thư, sung Hiệp thống Bắc Kỳ quân vụ đại thần, tước Thuần Trung hầu; lãnh nhiệm vụ tổ chức kháng chiến ở vùng Tây Bắc (Bắc Bộ).
Trong hai năm 1885-1886, ông đã hai lần sang Trung Quốc cầu viện (nhưng việc không thành, vì triều đình nhà Thanh đã thỏa hiệp với thực dân Pháp), mua vũ khí và phối hợp hoạt động với nhiều nhóm nghĩa quân khác ở Bắc Kỳ.
Cuối năm 1886, Nguyễn Quang Bích trở về nước. Xét thấy địa thế Tiên Động khá hẹp, lại do yêu cầu mới về chiến lược, chuẩn bị cho việc đón vua Hàm Nghi ra Bắc, nên ông và Nguyễn Văn Giáp (tức Bố Giáp, một cộng sự đắc lực) bèn đem quân lên Nghĩa Lộ (trước thuộc châu Văn Chấn, nay là thị xã Nghĩa Lộ thuộc tỉnh Yên Bái) xây dựng căn cứ mới
Tháng 4 năm 1888, Soái phủ Nam Kỳ gửi thêm viện binh ra Bắc Kỳ. Ngay sau đó, quân Pháp chia làm hai đạo mở cuộc hành quân lên Nghĩa Lộ. Đạo thứ nhất gồm 400 quân do Thiếu tá Bose chỉ huy, đi từ Ngòi Hút (tức Đại Lịch). Đạo thứ hai gồm 384 quân do Thiếu tá Berger chỉ huy tiến từ Ngòi Lao. Dọc đường cả hai đạo quân đều chịu thiệt hại nặng vì bị mai phục và dịch bệnh, nên mặc dù chiếm được một số nơi mà vẫn phải triệt hồi.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Cầm cự ở đây thêm ít tháng nữa, thì Nguyễn Quang Bích mang một số quân rời Nghĩa Lộ đến Yên Lập, là một huyện miền núi của tỉnh Phú Thọ, để củng cố phong trào kháng chiến tại vùng này. Từ nơi đây, ông đã phái nhiều đạo quân đi đánh phá nhiều nơi. Công cuộc đang thu được một số kết quả, thì bất ngờ ông lâm bệnh nặng rồi mất tại núi Tôn Sơn, (thuộc xã Mộ Xuân, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ) ngày rằm tháng 12 năm Canh Dần (tức 24 tháng 1 năm 1890) 5
Phong trào kháng Pháp ở vùng Tây Bắc (Việt Nam) vì thế bị giảm sút nặng nề sau cái chết của Bố Giáp và ông. Tuy nhiên, công cuộc do hai ông và các đồng đội đã dày công gầy dựng vẫn chưa chấm dứt hoàn toàn mà còn được tiếp tục ở miền hạ lưu sông Đà (nổi bật là cuộc khởi nghĩa Thanh Sơn do Đốc Ngữ làm thủ lĩnh) cho đến năm 1893 mới chấm dứt hẳn.
Sự nghiệp văn chương
Nguyễn Quang Bích để lại Ngư phong thi tập (Tập thơ Ngư Phong), gồm 97 bài thơ bằng chữ Hán phần lớn theo các thể Đường luật, sáng tác trong những năm ông lãnh đạo nghĩa quân chống Pháp, biểu lộ tiếng nói bi phẫn, đặc trưng cho một giai đoạn lịch sử. Ngoài ra, ông còn có các bài văn, câu đối, liễn điếu viếng các đồng đội tử trận, và "Thư trả lời quân Pháp" với lời lẽ khẳng khái, ý chí quyết hi sinh vì độc lập, dân tộc
Giới thiệu một bài thơ ông làm khi đang đi chinh chiến:
Phiên âm Hán-Việt:
Hữu chinh mại chi cảm
Kim triêu tiểu trú Quế Sơn bằng,
Khứ tuế kim triêu tại Bản Tăng.
Ưu phẫn nhất tâm đồng bộ uất,
Sơn nham đáo xứ cộng tằng lăng.
Khởi ưng cử thế tư vi quỷ,
Tối hữu ô nhân khả úy dăng.
Cận nhật bất kham tần đối kính,
Minh tu bạch đắc kỷ hành tăng.
Dịch nghĩa:
Cảm xúc về ngày tháng trôi qua
Hôm nay tạm trú trong nhà sàn đất Quế Sơn,
Nhớ lại khi ở Bản Tăng, cũng đúng ngày rày năm ngoái.
Trong lòng buồn bực, ở hai nơi nông nỗi giống nhau,
Đâu cũng núi non, bao lớp đá chập chồng cao ngất.
Nghĩ không lẽ khắp trần đời đều là những hạng tinh ma,
Duy phải tránh xa, rất dơ bẩn đáng khinh là bọn ruồi nhặng.
Gần đây khó chịu không muốn soi gương,
Vì râu tóc mấy chòm đã thấy bạc thêm ít nữa



