Nguyễn Quang Thanh - Người hàng binh tên Dân
Lời kể/ký ức của cựu chiến binh Nguyễn Quang Thanh về cuộc gặp bất ngờ với một hàng binh tên Dân trên đường hành quân sau trận căn cứ B50, và câu chuyện từ một người phía bên kia trở thành người lái xe hỗ trợ đơn vị thông tin.
Trong ký ức của cựu chiến binh Nguyễn Quang Thanh, có một chuyện vừa căng thẳng, vừa nhân văn mà ông không thể quên. Đó là cuộc gặp với một người lính phía bên kia, tên Dân, sau trận đánh ác liệt tại căn cứ B50, tức sân bay Hòa Bình.
Chiều ngày 18 tháng 3 năm 1975, sau trận đánh tại căn cứ B50, đơn vị ông được lệnh hành quân thần tốc bằng cơ giới về hướng quận lỵ Khánh Dương theo Quốc lộ 21, nay là Quốc lộ 26. Ông Thanh khi đó là cơ công, người sửa máy thông tin của Trung đoàn 66, Sư đoàn 10. Ông được phân công đi tiền trạm cùng bộ phận tham mưu, tác chiến, trinh sát, nuôi quân và thông tin. Đội hình tiền trạm do Tham mưu phó Tạ Ngọc Oanh dẫn đầu.
Đoàn xe đi qua Phước An. Rạng sáng ngày 19 tháng 3, đến Chư Cúc, để bảo đảm an toàn, đơn vị chuyển sang hành quân bộ trên con đường đất đỏ. Chiến trường lúc ấy biến động rất nhanh. Địch tan rã, tàn quân có thể ẩn nấp bất cứ đâu. Mỗi bụi le, mỗi đoạn bờ rẫy, mỗi lối ngoặt đều có thể có nguy hiểm.
Trong lúc đi cùng đội hình, ông Thanh tách ra khỏi đường hành quân chừng mười lăm mét để giải quyết việc cá nhân. Bất ngờ, từ phía sau bụi le vang lên một tiếng nói hoảng hốt: “Em xin hàng, ông giải phóng ơi!”. Ông quay lại và thấy một lính ngụy. Tình thế lúc đó rất bất ngờ: trong tay ông chỉ có cái cuốc, còn người kia có súng. Nhưng ông phải trấn tĩnh thật nhanh. Ông hô lớn: “Hàng thì sống!”, rồi ra lệnh người lính quay lưng, bỏ súng xuống, tiến lên.
Người lính làm theo. Khi ông Thanh nhặt khẩu súng lên kiểm tra, người kia van xin rằng mình có súng nhưng đã chạy từ tối qua, không bắn ai, chỉ muốn được sống. Nhìn thái độ thật thà, thành khẩn của anh ta, ông Thanh trấn an rằng đã hàng thì không ai bắn. Ông dẫn người ấy về đơn vị mà không cần trói.
Người hàng binh tên là Dân, 35 tuổi, quê Bình Định, là lái xe của Trung đoàn 44, Sư đoàn 23 quân đội Sài Gòn. Dân kể rằng sau khi đơn vị tan rã, anh chạy trốn từ tối, nhìn đâu cũng thấy quân giải phóng nên hiểu rằng xin hàng là con đường sống duy nhất. Gia đình anh ở thị xã Buôn Ma Thuột, có năm người con.
Câu chuyện tưởng sẽ kết thúc ở đó, bằng việc ông Thanh bàn giao Dân cho bộ phận chính sách. Nhưng chiến dịch diễn ra quá nhanh. Đơn vị tiếp tục đánh Khánh Dương, rồi chiến đấu với Lữ dù 3 tại đèo Phượng Hoàng, sau đó tiến về Cam Ranh. Tối ngày 2 tháng 4, đơn vị ém quân tại xã Cam Phúc, Cam Ranh. Ngày hôm sau, ông Thanh được giao nhiệm vụ sang hậu cần lấy pin và máy thông tin ở Quân cảng Cam Ranh. Có xe nhưng không có lái xe. Khi sang trại hàng binh xin một người biết lái, ông bất ngờ gặp lại Dân.
Dân cũng nhận ra ông. Từ người lính phía bên kia từng run rẩy xin hàng sau bụi le, anh trở thành người lái xe chở pin PRC-25, máy thông tin và ắc quy cho Ban Thông tin. Trong chiến tranh, thông tin liên lạc là mạch máu của đơn vị. Những chiếc máy, cục pin, ắc quy ấy giúp nối các mệnh lệnh, bảo đảm chỉ huy chiến đấu. Bằng cách ấy, một hàng binh đã góp phần phục vụ chính đơn vị mà trước đó anh từng đối đầu.
Câu chuyện “Người hàng binh tên Dân” cho thấy vẻ đẹp nhân văn của người lính giải phóng. Giữa chiến trường, Nguyễn Quang Thanh có thể đã đối mặt với nguy hiểm thật sự. Người trước mặt ông có súng, còn ông chỉ có cái cuốc. Nhưng khi người ấy buông súng và xin hàng, ông không đối xử bằng thù hằn. Ông giữ đúng chính sách khoan hồng, trấn an, đưa về đơn vị và sau này chính người hàng binh ấy còn được tin dùng làm việc có ích.
Trong ký ức của ông Thanh, chiến tranh có rất nhiều mất mát. Nhưng giữa khói lửa vẫn có những khoảnh khắc con người nhận ra con người. Một tiếng “xin hàng”, một câu “hàng thì sống”, một khẩu súng được đặt xuống, một chuyến xe chở máy thông tin về đơn vị — tất cả làm nên một câu chuyện nhỏ nhưng rất sáng về lòng nhân đạo, sự bình tĩnh và chính nghĩa của người lính trong những ngày tháng Ba, tháng Tư năm 1975.
Dựa trên bài “Chuyện người hàng binh”, trong đó nguồn ghi ông Thanh là cơ công Trung đoàn 66, Sư đoàn 10; ngày 18–19/3/1975, sau trận căn cứ B50, ông gặp một lính ngụy xin hàng tên Dân, sau đó Dân được giao lái xe chở pin, máy thông tin và ắc quy cho đơn vị.


