Nguyễn Quang Vinh – Bản Anh Hùng Ca Của Người Lính Đặc Công (2)
Tháng 10 năm 1977, bác Nguyễn Quang Vinh lên đường sang nước bạn Lào làm nhiệm vụ quốc tế cao cả, gắn bó với mảnh đất này cho đến tháng 12/1986. Khi đặt chân sang Lào, tình hình an ninh – chính trị còn hết sức phức tạp. Các thế lực phản động, thổ phỉ hoạt động mạnh, thường xuyên chống phá chính quyền cách mạng non trẻ. Các cố vấn quân sự nước Nga từng nhận định rằng, nếu muốn giành được thế chủ động, quân đội Việt Nam sẽ phải mất từ 08 tháng đến 01 năm. Thế nhưng, bằng tinh thần chiến đấu qu
Sau khi Hiệp định Paris được ký kết, đất nước bước sang một giai đoạn mới, nhưng với bác Nguyễn Quang Vinh, con đường người lính vẫn chưa dừng lại. Bác chưa xuất ngũ, vẫn tiếp tục khoác trên mình màu áo xanh, sẵn sàng lên đường khi Tổ quốc cần. Từ đơn vị D19, đặc công B20B (nay là 390), sau đó về Sư đoàn 308B rồi 338, tháng 10 năm 1977, bác lên đường sang nước bạn Lào làm nhiệm vụ quốc tế cao cả, gắn bó với mảnh đất này cho đến tháng 12/1986.
Khi đặt chân sang Lào, tình hình an ninh – chính trị còn hết sức phức tạp. Các thế lực phản động, thổ phỉ hoạt động mạnh, thường xuyên chống phá chính quyền cách mạng non trẻ. Các cố vấn quân sự nước Nga từng nhận định rằng, nếu muốn giành được thế chủ động, quân đội Việt Nam sẽ phải mất từ 08 tháng đến 01 năm. Thế nhưng, bằng tinh thần chiến đấu quả cảm, sự đoàn kết và ý chí kiên cường, chỉ trong vòng 02 tháng, bộ đội ta đã cùng quân đội Lào từng bước làm chủ tình hình, đẩy lùi các thế lực thù địch, giữ vững an ninh vùng biên.
Nhiệm vụ của bác và đồng đội không chỉ là chiến đấu, mà còn là thực hiện “Hiệp định liên minh chiến đấu Việt – Lào”, bảo vệ biên giới phía Tây Nam kéo dài ra phía Bắc, giúp nước bạn thu phục thổ phỉ, tháo gỡ và truy quét bọn phản động chống phá Đảng và cách mạng Lào, giành lại dân, xây dựng chính quyền vững mạnh từ cơ sở.
Những năm tháng trên đất bạn là quãng thời gian vô cùng gian khổ. Khi đánh Mỹ trên quê hương, bộ đội ta am hiểu từng con đường, bờ ruộng, lối mòn. Nhưng ở Lào, mọi thứ đều xa lạ. Trong khi đó, bọn thổ phỉ lại thông thuộc từng cánh rừng, khe suối, bản làng. Từ người già đến trẻ nhỏ đều quen với súng săn, việc ẩn nấp và phục kích. Người lính Việt Nam luôn phải đối mặt với hiểm nguy rình rập, hi sinh có thể đến bất cứ lúc nào.
Đặc biệt, mỗi khi mùa mưa về, rừng núi ngập trong ẩm ướt, muỗi vắt sinh sôi dày đặc, bám đầy người. Sốt rét rừng hoành hành dữ dội. Có những đơn vị kiệt quệ đến mức không còn đủ người khỏe mạnh để nấu ăn. Trạm xá dã chiến luôn chật kín chiến sĩ điều trị, phần lớn là sốt rét ác tính, thân thể gầy gò, sức lực suy kiệt.
Năm đầu tiên sang Lào, tỷ lệ hi sinh vì bệnh tật rất cao. Nhiều đồng đội của bác ngã xuống không phải vì bom đạn, mà vì những cơn sốt rét dữ dội giữa rừng sâu nước độc. Sau đó, khi đã quen dần với điều kiện khí hậu và địa hình, những mất mát lại đến từ các cuộc hành quân dài ngày, từ những trận phục kích bất ngờ trên đường làm nhiệm vụ. Mỗi bước chân đi qua rừng núi đều thấm đẫm mồ hôi, nước mắt và cả máu của người lính.
Trong gian khổ, mất mát ấy, tình cảm của nhân dân Lào dành cho bộ đội Việt Nam trở thành nguồn động viên vô cùng to lớn. Người dân sẵn sàng chia sẻ từng bát gạo, củ sắn, chỗ trú mưa, từng con đường an toàn. Họ coi bộ đội Việt Nam như người thân ruột thịt, cùng chung mục tiêu bảo vệ bản làng và xây dựng cuộc sống yên bình.
Bên cạnh nhiệm vụ chiến đấu, khi ấy còn có hai trung đoàn chuyên trách công tác truy quét kết hợp dân vận. Các đơn vị vừa đánh địch, vừa giúp dân sản xuất, sửa đường, dựng nhà, tuyên truyền vận động quần chúng tin theo cách mạng. Nhờ sự phối hợp chặt chẽ ấy, nhiều vùng đất được giải phóng, lòng dân được củng cố, tạo nền tảng vững chắc cho nước bạn xây dựng lực lượng, thành lập các sư đoàn lớn và từng bước ổn định chính quyền. Khi bạn đủ mạnh, ta lặng lẽ lùi về phía sau. Đó là biểu tượng cao đẹp của tinh thần quốc tế trong sáng và tình hữu nghị Việt – Lào “mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững”.
Đến khi hoàn thành sứ mệnh quốc tế, tháng 12/1986, bác Nguyễn Quang Vinh trở về, xuất ngũ trong niềm tự hào lặng lẽ của người lính Cụ Hồ. Không phô trương, không ồn ào, nhưng trong cuộc đời bác là cả một bản hùng ca về lòng trung thành, sự hi sinh và tinh thần vì nghĩa lớn. Dấu chân người lính của bác không chỉ in trên quê hương Việt Nam, mà còn in đậm trên núi rừng, bản làng nước bạn Lào – nơi đã chứng kiến một thời tuổi trẻ cháy bỏng vì hòa bình, độc lập và tình đoàn kết giữa hai dân tộc.



