Nguyễn Sinh Sắc – Người cha lớn và một đời nặng lòng với nước, với dân
Trong lịch sử dân tộc, cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc được nhiều người biết đến trước hết là thân sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhưng nếu chỉ nhìn Cụ qua danh phận ấy thì chưa đủ. Nguyễn Sinh Sắc là một nhà Nho tài năng, một người thầy, một thầy thuốc giàu lòng nhân ái và hơn hết là một người suốt đời đau đáu trước cảnh nước mất, dân khổ. Cuộc đời Cụ gắn với những năm tháng đất nước chìm trong ách thuộc địa, và chính nhân cách, tư tưởng yêu nước của người cha ấy đã góp phần hun đúc nên một Nguyễn Tất Thành sau này ra đi tìm đường cứu nước.

Trong lịch sử dân tộc, cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc được nhiều người biết đến trước hết là thân sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhưng nếu chỉ nhìn Cụ qua danh phận ấy thì chưa đủ. Nguyễn Sinh Sắc là một nhà Nho tài năng, một người thầy, một thầy thuốc giàu lòng nhân ái và hơn hết là một người suốt đời đau đáu trước cảnh nước mất, dân khổ. Cuộc đời Cụ gắn với những năm tháng đất nước chìm trong ách thuộc địa, và chính nhân cách, tư tưởng yêu nước của người cha ấy đã góp phần hun đúc nên một Nguyễn Tất Thành sau này ra đi tìm đường cứu nước.
Cụ Nguyễn Sinh Sắc sinh năm 1862 tại Làng Sen, Nghệ An. Mồ côi cha mẹ từ sớm, Cụ được nhà Nho Hoàng Xuân Đường nhận nuôi, cho ăn học. Nhờ thông minh, ham học, Cụ sớm nổi tiếng về tài năng, được xếp vào hàng “Nam Đàn tứ hổ”. Năm 1894, Cụ đỗ Cử nhân; sau đó tiếp tục theo đuổi con đường khoa cử và năm 1901 đỗ Phó bảng. Cũng trong năm ấy, người vợ tần tảo Hoàng Thị Loan qua đời sau khi sinh người con út. Nỗi đau mất vợ, mất con khiến gia đình nhỏ của Cụ phải trải qua một biến cố lớn, nhưng Cụ vẫn gắng gượng nuôi dạy các con trưởng thành.
Đỗ đạt, Cụ Nguyễn Sinh Sắc từng có cơ hội bước vào chốn quan trường. Năm 1906, Cụ nhận chức Thừa biện Bộ Lễ. Nhưng càng làm quan, Cụ càng nhìn rõ sự mục ruỗng của bộ máy phong kiến dưới ách thống trị của thực dân. Cụ từng quan niệm rằng làm quan không đồng nghĩa với yêu nước, bởi “trung quân không phải là ái quốc, mà ái quốc là ái dân”. Cụ dặn các con: “Chớ lấy phong cách nhà quan làm phong cách nhà mình.” Đó không chỉ là lời dạy về cách sống mà còn thể hiện một quan niệm sâu sắc: con người phải giữ được nhân cách, không để danh lợi làm thay đổi mình.
Năm 1909, Cụ được bổ nhiệm làm Tri huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định. Làm quan nhưng Cụ không đứng về phía cường hào. Cụ thường bênh vực người nghèo, căm ghét những kẻ áp bức dân chúng. Sau một vụ việc liên quan đến một tên cường hào, Cụ bị giáng chức. Cụ quyết định từ quan, rồi bắt đầu những năm tháng bôn ba qua nhiều vùng đất Nam Bộ. Từ một vị Phó bảng từng bước vào chốn quan trường, Cụ trở thành một người hành nghề chữa bệnh, giao du với các nhà Nho, sĩ phu yêu nước và tìm cách giúp đỡ những người cùng chí hướng.
Sau khi Nguyễn Tất Thành rời Bến Nhà Rồng năm 1911, Cụ tiếp tục cuộc đời phiêu bạt. Cụ đi nhiều nơi ở Nam Kỳ, có lúc sang Campuchia, vừa chữa bệnh cứu người vừa tìm kiếm những mối liên hệ với các nhà sư, nhà Nho và những người yêu nước. Cụ từng giúp chú giải kinh sách, góp ý cho phong trào chấn hưng Phật giáo. Ở đâu, Cụ cũng để lại hình ảnh một người trí thức sống thanh bạch, gần gũi với dân chúng và luôn hướng về vận mệnh đất nước.
Năm 1917, Cụ đến Cao Lãnh. Tại đây, Cụ làm nghề bốc thuốc, chữa bệnh cho người dân và tiếp xúc với nhiều nhân sĩ yêu nước. Người giàu đến chữa bệnh thì Cụ lấy tiền, người nghèo thì Cụ khám và cấp thuốc không lấy tiền. Bởi vậy, người dân Hòa An quý trọng Cụ không chỉ bởi Cụ là một nhà Nho uyên bác mà còn vì tấm lòng thương dân chân thành.
Điều đáng quý là tuổi tác không làm Cụ nguôi đi nỗi đau trước cảnh nước mất. Cụ tìm cách vận động thanh niên tham gia phong trào yêu nước. Những người trẻ như Phạm Hữu Lầu, Lưu Kim Phong thường tìm đến gặp Cụ. Cụ khuyên họ phải đứng lên góp sức phá bỏ xiềng xích nô lệ, bởi thanh niên chính là tương lai của đất nước. Những hoạt động của Cụ cùng các nhân sĩ yêu nước tại Cao Lãnh đã góp phần thúc đẩy phong trào cách mạng địa phương chuyển sang một giai đoạn mới.
Năm 1927, Cụ quyết định gắn bó lâu dài với Cao Lãnh. Tại đây, Cụ tiếp tục gần gũi với những thanh niên yêu nước và góp phần truyền bá tư tưởng cách mạng. Đến năm 1929, phong trào ở Hòa An phát triển mạnh. Những thanh niên từng được Cụ động viên, dìu dắt dần bước vào con đường cách mạng. Cuối năm ấy, tổ chức cách mạng ở Hòa An được công nhận là Chi bộ An Nam Cộng sản Đảng. Cụ không phải là người trực tiếp đứng trong tổ chức ấy, nhưng những năm tháng Cụ vun đắp tinh thần yêu nước cho lớp trẻ đã góp phần tạo nên mảnh đất tư tưởng cho phong trào phát triển.
Cuối tháng 11 năm 1929, cụ Nguyễn Sinh Sắc lâm bệnh nặng. Những người dân và thanh niên yêu nước ở Hòa An ngày đêm túc trực chăm sóc. Cụ qua đời vào đêm 26 rạng 27 tháng 11 năm 1929, hưởng thọ 67 tuổi. Người dân địa phương an táng Cụ bên cạnh Miễu Trời Sanh, tức khu vực chùa Hòa Long ngày nay.
Gần một thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc rời cõi đời, nhưng hình ảnh của Cụ vẫn được nhắc nhớ bằng sự kính trọng. Cụ không để lại một sự nghiệp chính trị đồ sộ, cũng không đứng đầu một cuộc khởi nghĩa lớn. Di sản lớn nhất của Cụ nằm ở nhân cách và tư tưởng: sống thanh sạch, thương dân, ghét cường quyền, coi trọng người nghèo và luôn đặt vận mệnh đất nước lên trên lợi ích cá nhân.
Và có lẽ, điều khiến hậu thế nhớ mãi về Nguyễn Sinh Sắc còn nằm ở một vai trò đặc biệt khác: Cụ là người cha đã nuôi dưỡng trong Nguyễn Tất Thành những hạt giống đầu tiên của lòng yêu nước, thương dân và ý chí không cam chịu cảnh mất nước. Từ mái nhà nghèo ở Nghệ An, từ những lời dạy của người cha, một người con đã bước ra thế giới để tìm con đường giải phóng dân tộc. Vì thế, nhắc đến Nguyễn Sinh Sắc không chỉ là nhắc đến thân sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà còn là nhắc đến một nhà Nho đã chọn sống vì dân, một người thầy đã gieo tư tưởng yêu nước cho thế hệ trẻ, và một con người đã dành trọn những năm tháng cuối đời để chữa bệnh cho dân, gần dân và thức tỉnh tinh thần yêu nước giữa một thời đất nước còn chìm trong bóng tối.


